Tăng Quảng - Thẩm Thị Huyền Không Học

Lời giới thiệu xuất bản

Huyền Không Phong Thủy học là một nhánh trong môn khoa học Kham Dư (Phong Thủy), có lịch sử lâu đời. Nó bắt nguồn từ lý số Hà Lạc, dựa trên Can Chi, Âm Dương, Cửu Cung và Bát Quái. Trải qua hàng nghìn năm diễn giải và chắt lọc của các bậc tiên hiền, Huyền Không Phong Thủy đã hình thành một hệ thống tri thức có cấu trúc chặt chẽ và tính logic cao, từ lâu đã được các thầy phong thủy coi là báu vật, là bí kíp không truyền của Dương Quân Tùng, Tưởng Đại Hồng và Chương Trọng Sơn. Tác phẩm “Thẩm Thị Huyền Không Học” là đại tác phẩm Huyền Không học của phong thủy gia Thẩm Trúc Nhưng thời nhà Thanh, được đúc kết từ trí tuệ của ông thông qua việc nghiên cứu “Âm Dương Nhị Trạch Lục Nghiệm” của Chương Trọng Sơn.

Thẩm Trúc Nhưng (1849-1906), tên thật là Thẩm Thiệu Huân, tự là Trúc Nhưng, người Tiền Đường, Chiết Giang thời nhà Thanh. Ông sinh vào tháng 6 năm Đạo Quang thứ 29 và mất vào tháng 6 năm Quang Tự thứ 32. Ông là phong thủy gia nổi tiếng thời Thanh, là nhân vật quan trọng trong Huyền Không Phong Thủy học. Ngay từ nhỏ, Thẩm Trúc Nhưng đã có niềm đam mê mãnh liệt đối với phong thủy học, vì vậy ông đã đọc rất nhiều sách và thường xuyên khảo sát các ngôi mộ khác nhau. Ban đầu, ông học phong thủy phái Tam Hợp, nhưng sau nhiều lần kiểm chứng thực tế, nhận thấy rằng phái phong thủy này có nhiều sai sót và khiếm khuyết. Sau đó, ông phát hiện ra phong thủy Huyền Không và nhiều lần kiểm nghiệm thành công, nên ông quyết định tập trung toàn bộ tâm sức vào việc nghiên cứu. Năm 1875, khi 26 tuổi, Thẩm Trúc Nhưng cùng với người thân là Hồ Bá An đến Vô Tích để tìm cách giải mã phương pháp Phi Tinh Huyền Không. Họ đã tìm đến hậu nhân của đại sư phong thủy Huyền Không nổi tiếng Chương Trọng Sơn, nhưng tiếc rằng sau vài tháng, họ vẫn chưa tìm hiểu được những huyền cơ thâm sâu. Về sau, Thẩm Trúc Nhưng dùng một số tiền lớn để mượn bộ sách “Âm Dương Nhị Trạch Lục Nghiệm” của Chương Trọng Sơn trong một đêm, hai người đã thức trắng đêm sao chép toàn bộ tác phẩm này. Thẩm Trúc Nhưng từ đó đã dùng cả đời mình để nghiên cứu kỹ lưỡng cuốn sách này, cuối cùng đã thấu hiểu một cách sâu sắc. Từ đó, ông có thể giải thích thông suốt phong thủy Huyền Không học từ Dương Quân Tùng đến Tưởng Đại Hồng và Chương Trọng Sơn, đồng thời bổ sung thêm các chú thích, thực sự mở ra cánh cửa huyền bí của Huyền Không Phong Thủy học. Trong cuốn “Thẩm Thị Huyền Không Học”, Thẩm Trúc Nhưng đã tiết lộ những bí mật không được truyền lại từ các bậc tiền nhân, dẫn dắt hậu học nghiên cứu Huyền Không Phong Thủy theo đúng đường lối, tạo được thành tựu xuất sắc trong lĩnh vực Huyền Không Phong Thủy học. Ông được các thế hệ nghiên cứu Huyền Không Phong Thủy sau này kính trọng, và tác phẩm “Thẩm Thị Huyền Không Học” cũng trở thành một tác phẩm kinh điển mang tính thời đại trong học thuật phong thủy.

“Thẩm Thị Huyền Không Học” được xuất bản thành bốn quyển sau khi Thẩm Trúc Nhưng qua đời, do con trai trưởng của ông là Thẩm Tổ Miên cùng các môn sinh biên tập từ những bản thảo mà ông để lại lúc sinh thời. Sau đó, trong các lần tái bản, con trai trưởng của Thẩm Trúc Nhưng cùng các môn sinh lại thu thập thêm nhiều nội dung liên quan từ bản thảo, thư tín và ghi chép của ông, bổ sung vào sách thêm hai quyển, nâng tổng số lên sáu quyển, đổi tên thành “Tăng Quảng Thẩm Thị Huyền Không Học”, trở thành một cuốn sách không thể thiếu cho những ai nghiên cứu Huyền Không Phong Thủy học.

Lần xuất bản này được dựa trên phiên bản “Tăng Quảng Thẩm Thị Huyền Không Học” năm Dân Quốc 23 (1934) để chỉnh lý và phát hành. Trong quá trình chỉnh lý, dù đã hết sức cẩn trọng chỉnh sửa, nhưng không tránh khỏi có những sai sót, mong quý độc giả không tiếc lời chỉ giáo.

Diêu Quốc Hoa - Kha Dụ

Bắc Kinh, tháng 5 năm 2011


Tăng Quảng Thẩm Thị Huyền Không Học – Quyển 1

Tựa sách “Tăng Quảng Thẩm Thị Huyền Không Học”

Tôi từng nghiên cứu nhiều sách địa lý liên quan đến việc táng tá, nhưng cảm thấy các thuyết trong đó phức tạp và rối rắm, khiến người đọc dễ rơi vào sự mâu thuẫn nối tiếp nhau. Cho đến khi đọc cuốn “Thẩm Thị Huyền Không Học”, tôi thấy trong lời tựa của Thái sử Giang Du Sinh có câu: “Loan đầu có chứng cứ thực tế, cổ kim không hề có sách giả. Lý khí chủ yếu xét trên tính hư vô, cổ kim lại có nhiều bí quyết giả tạo”. Câu nói này quả thật rất đúng! Từ đó tôi mới hiểu ra rằng trước đây mình chưa từng thật sự học, và việc học mới chỉ thật sự bắt đầu từ đây.

Khi xem xét học thuật của tiên sinh Trúc Nhưng, tôi nhận thấy rằng tiên sinh vào thời kỳ học thuật suy thoái và lu mờ này, đã nắm được ý nghĩa của “thiên nhân hợp nhất”, có ý chí mạnh mẽ trong việc làm sáng tỏ tri thức địa lý khắp thiên hạ. Thật đáng gọi là một học giả vẹn toàn!

Vào mùa đông năm Nhâm Thân tại Hàng Châu, tôi đã gặp triết tự của tiên sinh, tức Tiết Dân. Tiết Dân cũng là một người có phong cách khiêm nhường, nho nhã, mang đậm dấu ấn của tiên sinh. Ông luôn tuân thủ và bảo tồn học thuật của tiên sinh mà không thay đổi. Cuốn sách này là một trong những tác phẩm để lại của tiên sinh, tiếc rằng chưa được ông chỉnh lý trước khi mất. Nhờ Tiết Dân cùng Giang Du Sinh thu thập các bản thảo còn sót lại, chỉnh lý lại thành sách, nên mới hoàn thành được tác phẩm này. Kể từ khi phát hành, sách đã được các học giả coi trọng trong thời gian dài. Sau đó, Tiết Dân lại thu thập thêm nhiều bản thảo của tiên sinh chưa được đưa vào sách, nhờ sự nỗ lực trong nhiều năm mà sách dần trở thành một công trình đồ sộ. Tiếc thay, Du Sinh đã mất, còn Tiết Dân vì bận rộn với công việc chính sự mà không có thời gian hoàn chỉnh tác phẩm. Do đó, tác phẩm này được hoàn thiện bởi tiên sinh Vương Quân Tắc Tiên, và được đặt tên là “Tăng Quảng Thẩm Thị Huyền Không Học”. So với bản gốc, sách đã được bổ sung thêm hơn một nửa nội dung. Trong sách còn có di tác của Du Sinh do Tắc Tiên bổ sung và giải thích thêm, cùng với “Khởi Tinh Lập Thành Đồ” của tiên sinh Thân Quân Thinh Thi. Đến đây, các luận thuyết về Huyền Không đã được cuốn sách này trình bày đầy đủ. Hai tiên sinh Tắc Tiên và Thinh Thi đều là bạn đồng học của Tiết Dân, và đều có thể truyền lại học thuật của tiên sinh Trúc Nhưng. Khi sách sắp đưa ra khắc in, nhờ tiên sinh Chu Quân Gia Lâm trợ giúp kinh phí, mới chỉ đủ một nửa, tôi cũng góp thêm một phần để có thể hoàn thành tác phẩm này.

Hiện nay, những người bàn về địa lý thường cho rằng “Loan đầu là hình, lý khí là pháp”, nhưng thực chất không phải như vậy. Loan đầu với tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ, tiền Chu Tước, hậu Huyền Vũ, đây vốn dĩ là hình thế. Còn lý khí với nam là Ngọ, bắc là Tý, đông là Mão, tây là Dậu, cũng là những hình thế có thể dựa vào. Làm sao có thể nói lý khí là không hình tướng được chứ? Trong Hệ Từ Truyện của Kinh Dịch có viết: “Hình nhi thượng giả vi chi Đạo, hình nhi hạ giả vi chi Khí” (cái ở trên hình là Đạo, cái ở dưới hình là Khí). Loan đầu, với từng ngọn núi và dòng nước riêng lẻ, chính là Khí, thuộc về “hình nhi hạ” (thuộc về cái dưới hình). Còn một ngọn núi và một hướng của lý khí, chính là Đạo, thuộc về “hình nhi thượng” (thuộc về cái trên hình). Kinh Dịch dùng hình để bao quát cả trên và dưới, Khí thì thực chứng, Đạo thì hư vô. Vậy nên Loan đầu và lý khí tuy là một mà hai, hai mà một vậy.

Có người cho rằng phương pháp bày bố của Huyền Không không phải là cổ pháp. Thật ra họ không biết rằng điều này đã khởi nguồn từ Dịch Vĩ, và được Khang Thành giải thích làm cho rõ ràng hơn. Trong Chú giải của Hậu Hán Thư - Trương Hành Truyện, cũng đã trích lược thuyết này. Các bậc danh nho đều đã ghi chép lại, vậy tại sao mọi người lại không tìm hiểu mà chỉ trích? Hơn nữa, đồ hình Tử Bạch vốn bắt đầu từ “Chính Quang Lịch” thời Bắc Ngụy, lịch thư hiện nay vẫn học theo pháp này mà không hề suy suyển. Ôi, còn nghi ngờ gì nữa chứ! Khi sách hoàn thành, tôi viết lời tựa này để phác thảo sơ lược về nội dung.

Tháng 8, năm Dân Quốc thứ 22 (1933),

Kính cẩn viết lời tựa tại Ngô Huyện, Giang Tô

Chu Sư Hùng


Lời đề từ sách “Thẩm Thị Huyền Không Học” (tái bản)

Thiên địa nhất hồ, thì trừu kỳ bí. 
Thức giả ngộ chi, phủ thập diệc dịch.
Tự sạn mậu thuyết, nhược chân nhược ngụy. 
Đại hảo loan đầu, ngộ vu lý khí.
Kham dư chi học, kỳ lai hữu tự. 
Âm dương lưu tuyền, lập pháp y thủy.
Quản quách dương tằng, thừa kỳ thống hệ. 
Thiên tái du du, hào ly thiên lý.
Nhất hành diệt man, phản dĩ họa kỷ. 
Vân gian hảo biện, đồ đa cấm kỵ.
Trác tai tiên sinh, ứng vận nhi khởi. 
Hà lạc thị tông, huyền không thị ký.
Thái ất du cung, nguyên vận chưởng chỉ. 
Thuận nghịch ai bài, suy vương sinh tử.
Đắc lệnh tắc thủ, thất lệnh tắc khí. 
Oát toàn thế vận, thừa bình khả ký.
Cứu tế chi tâm, tất sinh thị thỉ. 
Đoạn giản linh thiên, tích thành phế chỉ.
Gia học uyên nguyên, canh tục khả hỉ. 
Ngô kính điệt dân, bất quý tiêu tử.
Nhĩ hữu ngô hữu, tân nông thái sử. 
Hỗ đính thành thư, bất trụy quyết chỉ.
Nãi cập hạ tẩu, đắc khuy nhất nhị. 
Như tham phật thừa, ngũ thể đầu địa.
Hận phạp mỹ chất, vị năng triệt để. 
Liêu si lý từ, tá thân diên xí.

Dịch nghĩa

Trời đất như một cái bình lớn, thời cơ sẽ mở ra điều huyền bí của nó. Người có tri thức gặp được, như cúi xuống nhặt lấy, dễ dàng biết bao.

Tự pha trộn các thuyết sai lệch, như thật như giả. Loan đầu vốn tốt đẹp, nhưng lại sai lầm bởi lý khí.

Học thuật Kham Dư, từ xưa đến nay đã có căn nguyên. Âm dương lưu chuyển, lập pháp bắt đầu từ đó.

Quan Quách Dương Tăng, kế thừa hệ thống của nó. Trải qua ngàn năm, sai lệch một chút cũng dẫn đến ngàn dặm.

Đường Nhất Hành dẹp loạn, ngược lại mang họa vào thân. Kẻ tranh biện ở Vân Giản, chỉ toàn tạo thêm điều cấm kỵ vô nghĩa.

Thật là đáng khâm phục thay tiên sinh, ứng thời mà xuất hiện. Lấy Hà Lạc làm tông chỉ, dùng Huyền Không làm chỗ dựa.

Thái Ất du cung, nắm rõ nguyên vận. Thuận nghịch sắp xếp, biết rõ suy thịnh, sống chết.

Được lệnh thì dùng, mất lệnh thì bỏ. Xoay vần thế vận, có thể mong đợi thời thái bình.

Tấm lòng cứu thế, cả đời nguyện hướng đến. Bản thảo ngắt quãng, tiếc thay chỉ như giấy bỏ đi.

Học thuật gia đình thâm sâu, truyền thừa liên tục, thật đáng vui mừng. Tôi kính trọng Tiết Dân, xứng đáng là người kế thừa của tiên sinh.

Gần đây có người bạn của tôi, Thái sử Thân Nông, cùng nhau biên soạn thành sách, không làm mất đi ý chỉ của tiên sinh.

Cuối cùng truyền đến kẻ hậu học như tôi, chỉ hiểu được đôi phần. Như tham cứu Phật pháp, cúi lạy tôn kính năm vóc sát đất.

Tiếc thay tài trí nông cạn, chưa thể thấu triệt hoàn toàn. Tạm dùng lời lẽ đơn sơ, để thể hiện chút lòng ngưỡng mộ và mong muốn.

Tháng đông năm Nhâm Thân

Kẻ hậu học phụng viết: Giang Ngũ Dân, người Phụng Hóa


 Ý nghĩa của 12 cung trong tử vi đẩu số

-----------------
Trích: Tử vi đẩu số tinh thành - Sơn Nhân.
Tạm dịch: Minh Tuệ.



Tử vi đẩu số đem vận mệnh cát hung con người, nhân sự cùng mệnh chủ có mối quan hệ khăn khít, quy nạp thành 12 khía cạnh, còn được gọi là 12 cung. Danh xưng mười hai cung ứng với lục thân, sự tình. Ví dụ như cung mệnh đại biểu cho bản thân, cung huynh đệ đại biểu cho huynh đệ…
Ý nghĩa cơ bản của mười hai cung
1️⃣ Cung mệnh: Đây là cung quan trọng nhất trong mười hai cung, là hạt nhân của toàn bộ mệnh bàn cùng đấu số, được gọi là điểm Thái Cực, là đầu mối quan trọng trong vận mệnh của một đời người cùng với sự vật hoặc với những người xung quanh. Khi luận mười hai cung lúc nào cũng phải lấy cung Mệnh làm chuẫn để xem. Có thể nhìn thấy dung mạo, tính cách, tài năng, tư tưởng ý thức, trình độ phát triển, tiên thiên vận thế, sự may mắn, nó quyết định tiền đồ cả đời, là mấu chốt của sự cát hung thành bại.
Khi luận Mệnh, lấy cung mệnh làm chủ, tam phương tứ chính làm phụ, làm môi trường, nó có sự ảnh hưởng cao nhất quyết định cả đời quý khí thành tựu hay thất bại, cách cục vận mệnh cả đời cao hay thấp, tức là tiên thiên mệnh số, hoặc gọi là tiên thiên vận số. Tiên thiên vận thế tốt, hậu thiên vận thế ( tức tiểu đại hạn) không được tốt, gặp khó khăn có thể được sự trợ giúp mà vượt qua dễ dàng. Tiên thiên không tốt, hậu thiên tốt, tức đương số phải trãi qua nhiều chông gai binh biến nổ lực của bản thân mà thay đổi vận mệnh. Nhưng sẽ rất khó để lập công danh sự nghiệp của mức độ cao, bởi vì vận thế tiên thiên không được tốt. giống như cây mà không có gốc rễ vững chắc vậy, chỉ cần 1 con gió lớn liền gãy đỗ.
2️⃣ Cung huynh đệ: chủ yếu đại biểu cho anh chị em trong nhà, dung mạo tính tình tài năng của người mẹ, sự thành tựu và phát triển, anh chị em nhiều hay ít, mối quan hệ tốt xấu giữa mình cho anh chị em ấy, có được sự giúp đỡ hay không. Cũng có thể thấy được mối quan hệ giữa mình cùng với bằng hữu, hoặc đồng nghiệp trong công việc.
3️⃣ Cung phu thê: đại biểu cho một phần dung mạo, tính tình, tài năng, sự thành tựu của người phối ngẫu, sự yêu đương cùng mối quan hệ hôn nhân của bản thân, mối quan hệ, tình cảm, duyên phận với phu thê. Nó còn đại biểu cho thái độ của mình đối với người phối ngẫu, loại hình yêu thích của mình.
4️⃣ Cung tử tức: đại biểu con cái của đương số, dung mạo, tính tình, tốt xấu, tài năng cùng thành tựu của con cái, mối quan hệ tình cảm giữa mình với con cái và ngược lại. Nó còn đại biểu cho sinh hoạt phòng the.
5️⃣ Cung tài bạch: để xem hoạt động kinh tế cả đời cùng với năng lực quản lý tài sản, tiền tài như thế nào, cách kiếm tiền ra sao, sự phát triển của tài vận, thu nhập cao hay thấp, năng lực kiếm tiền, kiếm tiền bằng hình thức gì và phương thức kiếm tiền phù hợp, cách kiếm tiền có chính đạo hay không hay phải làm chuyện phi pháp để kiếm tiền. Tài phú có ổn định không…
6️⃣ Cung tật ách: đại biểu cho thân thể của bản thân, thể chất tiên thiên, tình trạng cơ thể, bệnh căn nặng nhẹ. Có thể thấy được cơ quan nào hoặc bộ vị nào có vấn đề, có phát sinh tật ách ngoài ý muốn hay không.
7️⃣ Cung thiên di: cung thiên di và cung mệnh có mối quan hệ mật thiệt như hình với bóng, tương hổ trong ngoài, mệnh chủ bên trong, di chủ bên ngoài. Đại biểu cho không gian hoạt động xã hội, năng lực, địa vị, trình độ đối ngoại, năng lực thích ứng với hoàn cảnh xã hội. Cát hung khi đi ra ngoài, xuất ngoại du lịch, đi xa…lên chức, điều động, di chuyển xa, li hương…đều có mối quan hệ. Sự tương trợ của xã hội hoặc quý nhân ở ngoài cũng có thể nhìn ở cung này.
8️⃣ Cung nô bộc: chủ yếu đại biểu cho gia đình, bằng hữu bên ngoài, những người ngang hàng với ta, đồng nghiệp, đồng sự, thuộc hạ, người hầu, nhiên viên, xem những đối tượng ấy có giúp được ta hay phá ta. Có thể biết được liệu có bị nhân viên phản hay không, mối quan hệ cùng nhân duyên sẽ như thế nào. Ví như cung nô bộc không tốt, khi hành hạn đến cung nô bộc, rất dễ bị tiểu nhân lừa gạt, thị phi, ám hại. Yêu đương hoặc tình ái bên ngoài cũng có thể nhìn vào cung này mà suy đoán.
9️⃣ Cung quan lộc (Hiện đại gọi cung sự nghiệp): đại biểu cho công danh lợi lộc, chức vị, thái độ làm việc, năng lực lập nghiệp, nghề nghiệp phù hợp, quá trình phát triển sự nghiệp, lương bổng nhiều ít, quan hệ với cấp trên.
Có thể xem xét về học lực khi đi học, như xem về học lực nếu cung quan lộc có xương khúc khôi việt hội chiếu không gặp hính sát phá, thì năng lục học tập tốt, thành tích tốt.
Người trưởng thành nếu cung quan lộc gặp hóa Kỵ, thì công việc rất dễ bị thay đổi, có thể vì bất mãn với công việc hoặc do điều kiện nội ngoại cảnh. Nếu gặp được hóa Lộc hóa Quyền, ắt là người có quyền có chức, có sự thành công trong sự nghiệp. Còn có thể nhìn thấy được thái độ của người phối ngẫu đối với mình như thế nào.
🔟 Cung điền trạch: đại biểu cho gia đình, gia trạch, tài khố, bất động sản, xem gia nhân, gia trạch có bình ổn hay không.
Có thể xem được hoàn cảnh của gia trạch, cách bố trí như thế nào, xem có thừa hưởng được tài sản của tổ tiên để lại hay không, năng lực tích trữ tiền của. Xem trong nhà có ảnh hưởng tốt xấu đến mình hay không, hàng xóm tốt xấu thế nào
1️⃣1️⃣ Cung phúc đức: là cung tư tưởng tinh thần, là kiếp trước tu hành, kiếp này được hưởng thụ, là nền móng tuổi thọ, tổ ấm cùng phúc phần tiên thiên (bao quát vật chất cùng tinh thần hưởng thụ). Để xem cuộc đời hạnh phúc hay vất vả, có an nhàn hay không, phương thức hưởng thụ.
Đại biểu cá nhân tu dưỡng tốt xấu, phương diện hưởng thụ tâm thái, nội tâm, tư tưởng phẩm đức tốt xấu.
Nhìn cá nhân tinh thần phải chăng là vui sướng, là lạc quan hay là bi quan, cần cù hay lười biếng. Đại biểu cho hứng thú, yêu thích, hệ tư tưởng.
Có được quý nhân phù trợ hay không, cuộc đời có được nhiều may mắn hay không…
1️⃣2️⃣ Cung phụ mẫu: Đại biểu cho phụ mẫu ( Chủ yếu là phụ thân ) Tính tình, tài năng, sự nghiệp, hoàn cảnh xã hội cùng cát hung. Duyên phận giữa mình và phụ mẫu, tình cảm, có được sự giúp đỡ của phụ mẫu hay không, hay tự mình gầy dựng sự nghiệp.
Nó còn đại biểu cho trưởng bối, cấp trên, người thầy…xem đi ra ngoài có được sự giúp đỡ hoặc ưu ái từ cấp trên hoặc trưởng bối hay không, mối quan hệ giữa mình và những đối tượng liên quan đến phụ mẫu ấy.
Cung phụ mẫu còn được gọi là cung tướng mạo, vì vậy khi xem về tướng mạo ngoài xem cung mệnh chúng ta cần phải xem thêm cung phụ mẫu.
Cung phụ mẫu đại biểu cho sự di truyền tốt xấu, còn được gọi là “đầu não tuyến”. Xem sự ảnh hưởng của phụ mẫu đối với mình, sự thông minh tài trí cùng tư tưởng ý thức, phương thức tư duy, học thức, trình độ văn hóa… cũng có sự ảnh hưởng rất lớn từ cung này.

Phụ mẫu là người nuôi dưỡng ta từ nhỏ, vì vậy trẻ nhỏ cần xem thêm cung phụ mẫu để biết thêm sự ảnh hưởng tốt xấu, có cấm đoán hay ép buộc, hay được nuông chiều quá mức hay không.
Cung phụ mẫu còn được gọi là cung văn thư; văn kiện, pháp quy, văn bảng, văn thư, khế ước, hợp đồng… những vấn đề liên quan đến giấy tờ đều phải nhìn cung phụ mẫu.

Cung phụ mẫu không tốt, tiền vận tương đối vất vã, thể xác và tinh thần đều khá mệt mỏi.


1.        Đặc tính của sao Âm Sát
Sao Âm Sát ngũ hành thuộc thuần âm Thổ.
Chủ về sự ám phục hãm hại.
Làm cho người ta có nhiều ngờ vực vô căn cứ, ghen ghét, thị phi.
Âm Sát là sao ám tinh rất nặng, đại biểu cho thế giới vô hình, xưng là quỷ thần, dễ có sự quấy nhiễu của phần âm, cũng dễ có thông linh. Cũng có thể là bị bạn bè chơi xấu sau lưng, tiểu nhân hãm hại, thù hận, lừa gạt, tâm thuật bất chính, những sự việc kỳ quái, sự không minh bạch, gian mưu, ám hại, lừa gạt, tại họa ngầm, âm gian địa phủ.
Âm Sát nghiệp lực rất mạnh, nó rơi vào cung nào thì cung ấy dễ xảy ra chuyện, lưu niên hạn đến ắt gặp hung.
Nhưng tính nguy hại của nó nhất định phải đi cùng với sát tinh mới có tác dụng, nếu không chỉ là khuôn mặt u ám mà thôi.
Âm Sát nhập cung mệnh, Mệnh chủ, tính cách âm trầm hay thay đổi, mẫn cảm đa nghi, hay suy nghĩ lung tung, nghi thần nghi quỷ, cảm xúc thường hay thay đổi bất ngờ, trẻ con thì thường hay kinh sợ, thường bị tiểu nhân hãm hại hoặc thị phi. Bởi vì, có “hoạt quỷ” xung quanh mình (“hoạt quỷ” có thể là ma quỷ, chuyện ma quỷ, những chuyện kỳ lạ mà không thể giải thích được)

1.        Sao Âm Sát cùng với các sao khác.
Sao Âm Sát có tính chất nguy hại, tất cần phải có sát tinh thì mới phát huy được tác dụng, chủ yếu là làm cho khuôn mặt có tính âm u.
Như Kình Dương chủ cạnh tranh, cùng Âm Sát đồng cung trở thành âm thầm đả kích .
Đà La chủ trở ngại, cùng Âm Sát đồng cung trở thành âm thầm kéo dài.
Âm Sát cùng Linh tinh đồng cung dễ bị tổn hại, ảnh hưởng bởi môi trường bên ngoài.
Gặp Không Kiếp Thiên Không đồng cung có thể ảnh hưởng nhiều bởi âm khí.
Âm Sát mặc dù bản thân không chủ về bệnh tật, nhưng khi Âm Sát đồng cung với 1 sao nào đó mang tính chất bệnh tật, nó sẽ tăng tính bệnh tật của sao đó lên, có thể là nguy chứng thậm chí là bệnh nan y.
Âm Sát có tính âm rất nặng, cùng Cự Môn, Thái Âm, hóa Kỵ, Liêm Trinh càng làm cho tính âm càng nặng.
Thiên phủ không nên gặp Âm Sát, gặp Âm Sát dễ dàng có tâm ý hại người, lòng dạ gian trá, nham hiểm.
Âm Sát có lục cát hội họp thì tính hung của Âm Sát giảm đi rất nhiều.
Âm Sát hội tả phù hữu bật là người tích cực hăng hái, hội văn xương văn khúc hoặc Khôi Việt là người dễ kết bạn với những người có tam giáo, cửu lưu chi sĩ (Tam giáo gồm “Nho” , “Đạo”  và “Phật” , cửu lưu gồm Nho gia , Đạo gia , Âm dương gia , Pháp gia , Danh gia , Mặc gia , Tung hoành gia , Tạp gia  và Nông gia .)


Sao Phi Liêm




-         Ngũ hành thuộc Bính Hỏa, Dương Hỏa.
-         Chủ cô khắc
-         Kỵ nhập Thân Mệnh, Phụ mẫu, Thiên Di
Gặp được cát tinh thì tính hung của Phi Liêm được hóa giải, kỵ gặp thêm hung sát tinh.
Sao Phi Liêm chủ về hình cô, khắc hại. Hình tượng lớn nhất của nó chính là ly tán, cô độc, đào hoa, khẩu thiệt.
Nhập cung Thân Mệnh là người cố chấp, tính cách hơi quái gở.
Nhập cung Phụ mẫu thì khắc bố mẹ, hội thêm hung sát tinh càng làm thêm khắc.
Nhập cung Thiên Di nên hạn chế di chuyển xa, gặp hung sát tinh càng đề phòng tai nạn giao thông khi đi ra ngoài.
Phi Liêm có bản tính cương trực, có lúc rất nhiệt tình nhưng lại bảo thủ. Cho nên nói về mối quan hệ bên ngoài thì Phi Liêm là 1 con sao khá bất lợi cho việc giao tế. Bản thân Phi Liêm đã mang tính khẩu thiệt thị phi lại còn bảo thủ, quan hệ xã hội không tốt nên dễ bị xã hội xa lánh.
Ưu điểm:
Là người thiện lương, tuân thủ theo quy định, nhiệt tình nhưng hay suy bụng ta ra bụng người. Đi theo chính đạo thà chết chứ không chùn bước, không dễ từ bỏ ý định của mình.
Nhược điểm:
Ngoan cố, bảo thủ mà không biết tùy cơ ứng biến, tư tưởng cực đoan. Quá tự tin vào chính mình, nghĩ và làm việc quá cao siêu làm cho người khác không hiểu mình muốn gì. Làm việc bảo thủ dễ bị người khác xa lánh.


SAO ÂN QUANG 恩光星


Ân : ân huệ, ơn đức
Quang : sáng
Ngũ hành thuộc Bính Hỏa, Dương Hỏa.
Chủ ân sủng, quý nhân phù trợ.
Rất tốt khi ở Mệnh, Quan lộc, có lợi cho thi cử, thanh minh, là sao phụ tá của sao Thiên Khôi, tính tình cẩn thận, quang minh lỗi lạc.
Ân quan tọa Thân Mệnh, đặc tính lớn nhất là sự cẩn thận, cho nên làm việc gì cũng cẩn thận. Mà tính cách lạc quan rộng rải, lại hiếu học, ưa bố thí. Có thể làm cho gia đình nở mày nở mặt.
Nó là 1 sao rất được người khác yêu mếm thích người khác được nuông chiều, mặt đù thế sao ân quang là sao rất biết ơn và đền đáp lại tình cảm của người khác.
·     Ân quang gia hội tả phụ, hữu bật, đa tài nghệ, hữu năng lực, dịch hữu thụ cao giai nhân sĩ hân thưởng.
·     Ân quang gia hội Văn xương, Văn khúc, văn thải giai, dịch hữu danh thanh.
·     Ân quang gia hội Thiên khôi, Thiên việt, cơ vận đa, thụ nhân lễ ngộ.
·     Ân quang gia hội Lộc, Quyền, Khoa, đắc tài, nhân duyên giai, dịch thụ nhân trọng dụng.
·     Ân quang gia hội Hỏa tinh hoặc Linh tinh, tố sự phách lực bất túc, tác phong nhuyễn nhược.
·     Ân quang gia hội Kình dương, Đà la, tố sự phách lực bất túc, tác phong nhuyễn nhược.
·     Ân quang gia hội Hỏa tinh, Linh tinh, Kình dương, Đà la, Địa không, Địa kiếp, tố sự phách lực bất túc, tác phong nhuyễn nhược.
·     Đại tiểu hạn ngộ Ân quang gia hội cát tinh danh thanh giai.
Ưu điểm:
Quang minh lỗi lạc, không thẹn với lương tâm, có chí tiến thủ, năng lực giác ngộ cao, khả năng học tập tốt, lạc quan rộng rãi, bình dị dễ gần gũi.
Khuyết điểm:
Nhân từ dễ nương tay, dễ tha thứ.

Người viết: Minh Tuệ -Tiểu Trúc


Sao Thiên Khốc 天哭


Khốc: khóc to, khóc thành tiếng
Sao Thiên khốc
Nhành thuộc Canh Kim, dương Kim,
Chủ hình khắc, chính khắc, chủ ưu thương.
Biểu tượng của sự thương tâm, tang sự
- Thủ thân mệnh, tính cô khắc, hẹp hòi, tính quái gở, thích khóc, dễ thương tâm, biểu tượng của sự thương tâm, tang sự. Như hạn gặp Tang môn tất có tang sự, hao tổn về tiền tài hoặc sức khỏe.
- Hạn gặp Thiên khốc, gia thêm Không Kiếp với nữ Mệnh rất có khả năng mặc đồ tang.

Ưu điểm: công chính, công bình, có tư tưởng cầu đạo, tâm tính nhẹ nhàng, trọng nghĩa khinh tài, cần cù tiết kiệm, có nguyên tắt, yêu ghét rỏ ràng.

Khuyết điểm: tính cách phiền muộn, có cảm giác cô độc, tự mình tìm đến phiền não.

Sao Thiên hư

Hư là trống rổng, là cái không thực.
Sao Thiên hư
Ngũ hành thuộc Kỹ Thổ - Âm Thổ
Hóa khí: Không vong
Chủ về hư hao, ưu thương, buồn thảm.

Cổ nhân viết:
Khốc Hư vi ác diệu,
Lâm mệnh tối phi thường;
Gia lâm phụ mẫu nội,
Phá đãng mại điền trang.
Nhược giáo Thân Mệnh hãm,
Cùng độc đối hình thương;
Lục thân đa bất túc,
Phiền não quá kỳ quang.
Đông mưu Tây bất tựu,
Tâm sự hốt mang mang;
Sửu Mão Thân cung cát,
Ngộ Lộc danh hiển dương.
Nhị hạn nhược phùng chi,
Ai ai khốc đoạn trường.

- Đặc trưng lớn nhất của Thiên hư là trôi nổi, vô định, cho nên tinh thần có chút không tập trung, gặp nhiều trở ngại, tiến thoái lưỡng nan, kham không nổi nhưng cũng không muốn bỏ, cuối cùng phải trốn trách hiện thực, hối hận.
- Với lục thân thì bạc duyên.
- Thích ôm việc lớn hám công to, nhưng lại không đủ khả năng, khuynh hướng có hoa mà không có quả, hữu khí vô lực.
- Cùng Thiên khốc chủ ưu thương, đại biểu cho ác diệu, tuy nhập Mệnh là hung tinh, nhưng gặp cát tinh có thể hóa giải.
- Ngoài ra, gặp Lộc Tồn, Hóa Lộc có thể vang danh thiên hạ.
- Đại tiểu vận gặp nó chủ có thể có tang sự, mất mát, buồn rầu.

Ưu điểm: về già thích sống cảnh sống thanh bần, khiêm tốn, thích yên tĩnh, nhàn nhã không lo được mất, mọi thứ thuận theo tự nhiên.

Nhược điểm: bảo thủ không chịu thay đổi, không quả quyết, ôm việc không nổi nhưng cũng không muốn buông, bề ngoài tỏ vẽ lạnh nhạt nên bất lợi cho quan hệ.


người viết: Minh Tuệ - Tiểu Trúc

Sao Cô thần - tính chất và ý nghĩa

Sao cô thần 孤辰星
Ngũ hành thuộc Bính Hỏa, Dương Hỏa
Chủ: cô
Kỵ nhập cung Phu thê, Phụ mẫu.
Sao cô thần - sao quả tú

Nhập Mệnh là dương cô, gặp sát tinh chủ phá tướng, bệnh tật. Mệnh không có cát tinh gặp cô thần dễ chia ly hoặc góa.
Cô thần gặp sao Thiên cơ, thiên lương, vũ khúc, thiên tướng, thì tính cách cô độc quái lạ, lánh xa nhân thế, càng không thích hợp ở người nam.
Cô thần tượng của 1 mình, cô độc, cá tính tiêu cực cố chấp, không thích thể hiện tính cảm, không lợi cho hôn nhân. Tuy nhiên khả năng kiến giải khá tốt, nhưng đôi lúc lại sử dụng không đúng chổ nên có sự xa cách với mọi người.
Như Cô thần ở Mệnh, lúc nhỏ nhiều vất cả, long đong, hướng nội lại hay tự ti, thậm chí có thể dẫn tới xu hướng cô độc, 1 mình không thích hòa hợp với mọi người. Cũng bởi vì thế mà tính cách có nhiều thứ khác với mọi người, hứa nhiều nhưng làm ít. Nên nó cũng không nên nhập cung phụ mẫu hoặc cung phu thê dễ duyên bạc hoặc trì hôn, tụ ít ly nhiều.
Ưu điểm: độc lập tử chủ, không thích dựa vào người khác, nhiều kiến giải rất tốt, coi trọng nguyên tắc, không theo số đông, có lập trường.
       Nhược điểm: tiêu cực chố chấp, mèo khen mèo dài đuôi, tự cao tự đại, cả đời nhiều sóng gió, phiêu bạc

Sơ lược về Hà Đồ - Lạc Thư



Sơ lược về Hà Lạc

Hà Lạc là tên gọi tắt của Hà Đồ và Lạc Thư, chúng có địa vị cực cao ở trong hệ thống lý luận của Dịch học. Từ cổ chí kim, hết thảy những người nghiên cứu Dịch đều đầu tư rất nhiều công sức vào để nghiên cứu Hà Lạc. Đúng là rất hứng thú, tuy nhiên các cổ thư từ xưa như trong Hệ Từ của Chu Dịch thì có câu "Hà xuất Đồ, Lạc xuất Thư, thánh nhân tắc chi", ngoài ra các sách như "Thượng Thư", "Luận Ngữ", "Dịch Vĩ", "Đại đới lễ ký", "Hán Thư", "Hoài Nam Tử",... đều có ghi chép lại về Hà Đồ với Lạc Thư, nhưng mà Hà Đồ với Lạc Thư làm nên Đồ Tượng là cái gì thì từ đời Tống trở về trước lại ít có người hiểu được. 
Đến đời nhà Tống, hai cái bức đồ đó sừng sững mà xuất hiện ở trong nhân thế, tương truyền là theo Hoa Sơn đạo sĩ Trần Đoàn cùng với đệ tử của ông ta ở đó truyền ra. Vì vậy sau đó liền mở đầu cho cái gọi là "Đồ Thư tượng số Dịch" ở thời nhà Tống, đủ mọi loại đồ tượng với đồ thuyết tới tấp diễn dịch xuất hiện, vậy thành ra một loại phương pháp chỉnh lý Dịch của người đời Tống. Và như thế thời Tống là thời đại thứ hai sau thời Hán có được đỉnh cao về Dịch học ở trong lịch sử Trung Quốc. Đồ Thư phái tin chắc rằng Hà xuất Đồ, Lạc xuất Thư, thánh nhân làm theo đó mà vẽ ra các quái. Nhưng mà Hà Đồ với Lạc Thư trong lịch sử hàng trăm hàng ngàn năm ở trên trời sao lại không có ghi chép gì về nó, thế nào mà lại đột nhiên sinh ra ở giữa trời rồi giáng xuống đất nhủ thế nhỉ? Không thiếu gì người nghi ngờ mà chất vấn như vậy, và cho rằng Hà Đồ Lạc Thư là do người đời sau bịa đặt, dó đó mà giới Dịch học xảy ra đại luận chiến giữa phái Đồ Thư và phái Nghi Cổ (nghi ngờ cái cổ xưa). 

Trong phe Nghi Cổ không thiếu gì những danh nhân danh sĩ trong lịch sử như Âu Dương Tu đời Tống, Trần Ứng Nhuận đời Nguyên, Lưu Liêm đời Minh, Hoàng Tông Hi - Hoàng Tông Viêm - Mao Kỳ Linh đời Thanh, thời kỳ Dân Quốc lại có những người như Cố Hiệt Cương,... những người này thậm chí dành nửa cuối cuộc đời của mình để trước tác sách vở, lập thuyết, bác bỏ quan điểm của phái Hà Lạc, phủ định sự tồn tại của Đồ Thư.
Hai phái không ai chịu nghe ai, cứ công kích qua lại, ngày càng kịch liệt, có thể hình dung như cái thế không đội trời chung vậy. Đại gia Âu Dương Tu còn mô tả cái tình ý thống hận của phái Đồ Thư bằng câu "Đối với người nói cái thuyết này, pháp luật cần phải đem chém đầu".

Ngay trong khi đó, trong nội bộ của Đồ Thư phái cũng tồn tại và tranh luận giữa 2 phe, một bên thì cho rằng Hà Đồ đích thị là Lạc Thư, còn bên kia lại cho rằng Lạc Thư mới phải là Hà Đồ, hai phe này cũng biện bác nhau rất chi là sôi động. 
Giới Dịch học trung dung thì cho là các trận đại luận chiến đó sẽ kéo dài lôi thôi vĩnh viễn không ngừng cho đến mãi về sau của lịch sử Dịch học.  
Nhưng lịch sử lại một lần nữa mở ra một cuộc trêu ngươi, vào năm 1977 ở huyện Phụ Dương tỉnh An Huy khai quật mộ đôi Nhữ Âm Hầu đời Tây Hán được một cái "Thái Ất cửu cung chiêm bàn", bên trong khay bàn này có khắc Lạc Thư đồ gần như hoàn toàn thống nhất và được nghiệm chứng với các ghi chép trong cổ tịch đời Tống cùng với các thuyết pháp của nó. Đây là một bằng chứng rành rành tuyên cáo kết thúc hoàn toàn các cuộc tranh luận chân ngụy của Hà Lạc 900 năm. Đến đây, xác lập được địa vị của Hà Lạc là nguồn gốc của văn hóa Trung Quốc.

Vì thế, các trước tác của phái Đồ Thư trong lịch sử lại trở thành tiêu điểm nghiên cứu của các nhà nghiên cứu Dịch học hiện đại, những trước tác này gồm có: 
"Dịch Số câu ẩn đồ" của Lưu Mục đời Tống
"Dịch Tượng đồ thuyết", "Đại Tượng Dịch Số câu thâm đồ" của Trương Lý đời Nguyên
"Dịch Kinh Lai thị chú giải" của Lai Trí Đức đời Minh "Chu Dịch chiết trung" của Lý Quang Địa đời Thanh
"Chu Dịch thiển thuật" của Trần Mộng Lôi đời Thanh
"Hà Lạc tinh uẩn" của Giang Vĩnh đời Thanh
"Dịch học tàng thư" của Hàng Tân Trai thời Dân Quốc
"Dịch học thám nguyên" của Hoàng Nguyên Bính thời Dân Quốc v.v...
Trong đó, cuốn "Hà Lạc tinh uẩn" của Giang Vĩnh được đánh giá là một tác phẩm
thượng thừa. Trong quá trình nghiên cứu nguyên lý của Đẩu Số thì Minh Đăng tôi đã thu hoặc được rất nhiều hữu ích từ trong cuốn sách đó.


Giản thuyết của Hà Đồ

 Hà Lạc từ đâu tới? 
Theo thuyết pháp của các cổ tịch như "Thượng Thư" và "Lễ Ký" là Long Mã cõng Đồ và Thần Quy chở Thư, tức là Hà Đồ sớm nhất là cái hình hoa văn trên người con Long Mã ở sông Hoàng Hà, còn Lạc Thư thì là hoa văn trên mai của con Linh Quy ở sông Lạc Thủy. Hà Đồ với Lạc Thư đến với nhân gian và được người ta nhận thức như vậy đó. Cái kiểu truyền thuyết thần thoại ấy đúng là cách nói lừa gạt người ta, chứ thực ra Hà Đồ với Lạc Thư là đến từ thiên tượng của Thiên Văn học cổ đại, là sự trường kỳ quan sát thiên tượng rồi đúc kết ra, mà ghi chép lại cùng với nghiệm chứng các đồ hình phù hiệu, nói đúng hơn nữa, Hà Đồ chính là dựa vào những lúc ẩn hiện của Ngũ Tinh mà vẽ thành.

Ngũ Tinh ngày xưa được gọi là Ngũ Vĩ, chính là 5 khối hành tinh gần Địa Cầu nhất trong Thái Dương hệ. Thủy tinh viết Thần Tinh, Hỏa tinh viết Huỳnh Hoặc Tinh, Mộc tinh viết Tuế Tinh, Kinh tinh viết Thái Bạch Tinh, Thổ tinh viết Trấn Tinh, xem thêm trong nội dung của chương Thiên Văn Lịch Pháp để rõ hơn. 

Ngũ Tinh vận hành không giống như Mặt Trăng mỗi ngày đi một Tú, mà là ẩn hiện theo các Tiết hậu, thông thường theo trình tự Mộc Hỏa Thổ Kim Thủy, lần lượt nối tiếp nhau xuất hiện tại bầu trời phụ cận chỗ Bắc Cực. Người xưa phát hiện ra quy luật ẩn hiện của chúng như sau:

Thủy Tinh ở mỗi ngày thì vào giờ thứ nhất (giờ Tý) cùng giờ thứ 6 (giờ Tị) xuất hiện ở phương Bắc; mỗi tháng thì vào ngày 1, 6 (mồng 1, mồng 6, ngày 11, ngày 16, ngày 21, ngày 26) cùng với Nhật Nguyệt hội ở phương Bắc;  mỗi năm vào tháng 1 tháng 6 thì xuất hiện ở phương Bắc.

Hỏa Tinh ở mỗi ngày thì vào giờ thứ 2 (giờ Sửu) cùng giờ thứ 7 (giờ Ngọ) xuất hiện ở phương Nam; mỗi tháng vào ngày 2, 7 (mồng 2, mồng 7, 12, 17, 22, 27) cùng với Nhật Nguyệt hội ở phương Nam; mỗi năm vào tháng 2 tháng 7 thì xuất hiện ở phương Nam.

Mộc Tinh ở mỗi ngày thì vào giờ thứ 3 (giờ Dần) cùng giờ thứ 8 (giờ Mùi) xuất hiện ở phương Đông; mỗi tháng vào ngày 3, 8 (mồng 3, mồng 8, 13, 18, 23, 28) cùng với Nhật Nguyệt hội ở phương Đông, mỗi năm vào tháng 3, tháng 8 thì xuất hiện ở phương Đông.

Kim Tinh ở mỗi ngày thì vào giờ thứ 4 (giờ Mão) cùng giờ thứ 9 (giờ Thân) xuất hiện ở phương Tây; mỗi tháng vào ngày 4, 9 (mồng 4, mồng 9, 14, 19, 24, 29) cùng với Nhật Nguyệt hội ở phương Tây; mỗi năm vào tháng 4, tháng 9 thì xuất hiện ở phương Tây.

Thổ Tinh ở mỗi ngày thì vào giờ thứ 5 (giờ Thìn) cùng giờ thứ 10 (giờ Dậu) xuất hiện ở giữa trời; mỗi tháng vào ngày 5, 10 (mồng 5, mồng 10, 15, 20, 25, 30) cùng với Nhật Nguyệt hội ở giữa trời; mỗi năm vào các tháng 5, tháng 10 thì xuất hiện ở giữa trời.  

Hà Đồ vốn chính là thiên tượng ẩn hiện mà vẽ thành, cho nên lấy 1, 6 hội hợp Thủy ở phương Bắc; lấy 2, 7 hội hợp Hỏa ở phương Nam; lấy 3, 8 hội hợp Mộc ở phương Đông, lấy 4, 9 hội hợp Kim ở phương Tây; lấy 5, 10 hội hợp Thổ ở trung ương.

Đồng thời, quan niệm của Ngũ Hành cũng tự nhiên mà ứng hợp mà sinh ra. Mỗi năm vào trước Đông Chí ở tháng Một (11 al), Thủy Tinh thấy ở phương Bắc, trong lúc khí mùa Đông giao lệnh, vạn vật ẩn náu, trên mặt đất chỉ có băng tuyết, cho nên khái niệm hành Thủy liền hình thành.

Lưu ý là ở đây tác giả đang dùng cách gọi tháng là 1 = tháng Tý = tháng Một theo cách gọi của Việt Nam = tháng 11 al hiện nay).

Tháng 7 sau Hạ Chí, Hỏa tinh thấy ở phương Nam, trong lúc khí mùa Hè giao lệnh, trên mặt đất rất nóng bức, cho nên khái niệm hành Hỏa bắt đầu sinh ra. 

Tháng  3  gần  tới  Xuân  Phân,  Mộc  Tinh  thấy    phương  Đông,  trong  khi  khí  mùa  Xuân đương lệnh, thảo mộc manh nha sinh trưởng, quan niệm về hành Mộc phối với mùa Xuân nảy sinh.

Tháng 9 gần Thu Phân, Kim Tinh thấy ở phương Tây trong một khoảng trời đất có khí sát phạt nên vạn vật lão thành, cây cối rụng lá, lạnh se se, quan niệm hành Kim cũng nảy sinh.
Tháng 5 khi Thổ Tinh thấy ở giữa trời, biểu thị khí xuân đang hết mà khí mùa hè đang trưởng mà nắm lệnh, Mộc Hỏa Kim Thủy đều lấy nó làm trung điểm, điều hòa dẫn dắt biến hóa của khí hậu 4 mùa, đều tuân theo sự quan trắc trên mặt đất mà thành, quan niệm về hành Thổ cũng được sinh ra.

 Ngũ Hành trong "Hồng Phạm" có số Thủy 1, Hỏa 2, Mộc 3, Kim 4, Thổ 5, chính là bắt nguồn từ đó.

 Hà Đồ đề cập tới cái gọi là số Thiên Địa, số Sinh Thành, số Đại Diễn, số vạn vật với số của "Tham Thiên Lưỡng Địa", cùng với kiến giải của "Chu Dịch" phù hợp, được nhiều nhà nho Dịch phát huy.

 Cái gọi là số Thiên Địa, một đoạn thoại ở trong "Chu Dịch - Hệ Từ" nói: 
"Thiên nhất, địa nhị, thiên tam, địa tứ, thiên ngũ, địa lục, thiên thất, địa bát, thiên cửu, địa thập. Thiên số ngũ, địa số ngũ, ngũ vị tương đắc nhi các hữu hợp, thiên số nhị thập ngũ, địa số tam thập, phàm thiên địa chi số ngũ thập hữu ngũ, thử sở dĩ thành biến hóa nhi hành quỷ thần dã".

Thiên 1, Địa 2, Thiên 3, Địa 4, Thiên 5, Địa 6, Thiên 7, Địa 8, Thiên 9, Địa 10. Số Trời có 5 (con số), số Đất cũng có 5 (con số), mỗi 5 vị đó tương hợp lại với nhau, số Trời được 25, số Đất được 30, tổng cộng số Thiên Địa được 55, bấy giờ thành nguyên cớ mà biến hóa lưu thông quỷ thần vậy". đại ý là: 1, 3, 5, 7, 9 là số Thiên (số Trời), cộng 5 con số đó lại thì được 25 (=1+3+5+7+9); còn 2, 4, 6, 8, 10 là số Địa (số Đất), cộng chúng lại thì được 30 (=2+4+6+8+10); mà tổng cộng của số Trời và số Đất là 55 (=25+30) gọi là số Thiên Địa.
  
( Nhất lục cộng tông đồ)
 Cái gọi là số Sinh Thành, thấy ở trong "Nhất Lục cộng tông đồ" (Đồ hình 1 và 6 cùng chung gốc) của Dương Hùng thời nhà Hán. Đại ý là Hà Đồ lấy 5 thừa số thống quản 5 thừa số, chỉ nói 5, không nói đến 10, ước số đến 10 thì là 1, do đó vốn là cái lý của tự nhiên, lấy 5 làm cơ số thì vạn vật đều có thể đưa vào trong ngũ hành.

Hà Đồ lấy 1, 2, 3, 4, 5 làm số Sinh, bởi vì căn cứ vào thiên tượng đều theo Ngũ
Tinh vận chuyển mà biến hóa, vạn vật đều tùy theo cái chuyển dời của Ngũ khí mà sinh trưởng, cho nên có tên là số Sinh. Từ đây, trên cơ sở của các số Sinh đó, số tăng dần với 5 là số Thành, như 5 + 1 = 6, nên 6 là số Thành của 1; còn 5 + 2 = 7 nên 7 là số thành của 2. Cùng cái lý ấy thì 8 là số thành của 3, còn 9 là số Thành của 4, và 10 là số thành của 5. 

Cho nên ở trong đồ hình trên mới có hàm nghĩa:
Nhất dữ lục cộng tông
Nhị dữ thất vi bằng
Tam dữ bát thành hữu
Tứ dữ cửu đồng đạo
Ngũ dữ ngũ tương thủ (có 1 thuyết khác nói Ngũ với Thập tương thủ)

Các nhà Nho Dịch còn cho rằng, bởi vì số Sinh 1, 2, 3, 4, 5 là số cơ bản, cho nên số của tất cả các loại số đều có thể từ các số cơ bản này mà suy diễn ra. Năm cái số cơ bản này phân ra Âm Dương Cơ Ngẫu; với 1 3 5 là các số Dương, cộng với nhau lại là 9; còn 2 4 là các số Âm, cộng với nhau thành 6; cho nên Hào Dương trong Kinh Dịch dụng 9, Hào Âm dụng 6. 

Ngoài ra còn có rất nhiều luận thuyết huyền ảo, tại đây không chép lại hết được.
Nguồn: tham khảo - chưa kiểm chứng