Các bài viết về "Hóa Lộc"
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hóa Lộc. Hiển thị tất cả bài đăng

Sao Tham Lang hóa Lộc



Tham Lang là sao tài nghệ, có tài nghệ thiên phú hoặc căn bản. Lúc Tham Lang Hóa Lộc, tài nghệ xuất chúng. Nhưng nếu ở hãm địa lại có thêm sát tinh, không có cát tinh phù trợ thì cuộc đời khó tránh sẽ gặp phải khó khăn, thất bại mà than vãn, bản thân có tài mà không gặp thời, tự cho mình là thanh cao. Nếu ở vượng địa, còn có Tử Vi đồng cung, có lục cát tinh hội hợp, là người có chân tài thực học, có thể gặp cơ hội tốt để phát huy, và thi thố tài năng, nữ mệnh giỏi nữ công, chăm lo gia đình có phương pháp, sắp xếp và xử lý việc nhà ngăn nắp gọn gàng, đâu vào đấy, có thứ tự; nhưng nếu có Hỏa Linh, Thiên Hình, Địa Không, Địa Kiếp đến hội hợp, thì dễ gặp tình cảm rắc rối.
Tham Lang Hóa Lộc có Hỏa Linh và Tả Hữu ở cùng một cung, có thể tăng thêm nguồn để kiếm tiền, thưởng thưởng có tiền thu nhập không chính thức một cách bất ngở hoặc có hoạnh tài. Nếu chỉ có Hỏa Linh đồng cung, mà không có Tả Hữu, nhưng có Địa Không, Địa Kiếp hội hợp, là có số tiền nhỏ ngoài thu nhập chính thức. Lúc có tiền thu nhập không chính thức hoặc có hoạnh tài, phải cấp tốc mua bất động sản, hoặc mang một phần tiền đi làm từ thiện, thu xếp thỏa đáng kịp thởi là phúc vô cùng; nếu không, tiền đến nhưng không tụ, ắt sẽ có cớ để hao tổn, thậm chí có thể “cực lạc sinh bi” (vui quá hóa buồn).
Tham Lang vốn là sao đa tài đa nghệ, lại còn là sao đào hoa, cũng chủ về lộc ăn, tiền thu nhập không chính thức; nếu nó Hóa Lộc ở cung miếu vượng, thì rất nổi trội trong xã hội, giao du rộng, mà tiêu xài cũng lớn, bạn bè phần nhiều là người rởi xa quê hương, đi nơi khác làm ăn kinh doanh, hoặc làm quan viên có liên quan đến kinh tế tài chính (nhưng còn phải xem cách cục cao hay thấp để định). Lúc lạc hãm, thưởng không đi theo con đưởng chính, mà thích giao tế cửa sau, lưu luyến những nơi thói hư tật xấu.
Tham Lang Hóa Lộc, cuộc đởi sẽ có nhiều bạn tình, nhiều thói hư tật xấu, thích thù tạc; tối kị có Kình Dương, Đà La đồng cung, chủ về vì sắc mà chuốc họa; rất thích hợp có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng cung, chủ về đào hoa và phát đột ngột. Hóa Lộc chỉ ở đất Tứ mã là cát lợi, đáng tiếc Tham Lang ở đất Tứ mã lại không đắc địa.
Tham Lang vốn có một tính chất, đó là sở trưởng giao tế thù tạc, hoặc thủ đoạn linh hoạt uyển chuyển, ưa ban ân huệ nhỏ cho người ta, vì vậy tuy thiếu năng lực lãnh đạo, nhưng cũng được một đám bạn bè vây quanh, nghiễm nhiên thành trung tâm xã giao của một nhóm người. Lúc Tham Lang Hóa Lộc, tính chất này càng rõ rệt, hơn nữa, thưởng có thể nhở giao tế thù tạc mà có được tiền bạc. “Mạnh vì gạo, bạo vì tiền”, có điều kiện thuận lợi thì hoạt động sẽ có hiệu quả, chính là phương châm của mẫu người này.
Tham Lang Hóa Lộc làm tăng thêm dục vọng, vận hoạnh tài và thu nhập không chính thức cũng tang mạnh, thưởng có tính bạo phát, duyên với người khác phái cũng không tệ, dễ được người khác phái trợ giúp,chuyển đào hoa thành tiền bạc, làm cho nguồn để kiếm tiền liên tục không dứt. Nếu Tham Lang  Hóa Lộc, đồng thởi có sao đào hoa đồng cung, nhất là Đào Hoa, Đạo Hao, Thiên Diêu, Mộc Dục, là chủ về ham mê tửu sắc (thậm chí không cần có Hóa Lộc của Tham Lang). Không có sát tinh còn được, bất quá chỉ là “khách quen chốn hoan lạc”, nếu đồng thởi còn thấy sát tinh, ắt sẽ vì thói hư tật xấu mà chuốc phiền phức thị phi. Nếu gặp sát tinh và thêm Hóa Kị, là thưởng hay vì thù tạc mà hao phá tiền bạc, còn có đào hoa, khó tránh bị rắc rối.
Tham Lang Hóa Lộc thấy Tả Phụ Hữu Bật, là nhiều bạn bè, bạn tốt cũng nhiều; nhưng nếu thấy các tạp diệu như Kiếp Sát, Tai Sát, Âm Sát, Chỉ Bối, Thiên Hư, thì dễ gần gũi tiểu nhân, kết bè kết phái, vì vậy mà bị liên lụy. Lúc Tham Lang không Hóa Lộc, tình trạng liên lụy sẽ nhỏ hơn.
Tham Lang có Hỏa Tinh hay Linh Tinh đồng cung, gọi là cách cục “Hỏa Tham” hay cách cục “Linh Tham”. Nếu Tham Lang Hóa Lộc, là chủ về có được tiền bất ngở, hoặc dễ có được tiền, hay có được tiền một cách mau chóng. Hai cách cục này vốn chủ về phất lên nhanh mà sụp đổ cũng nhanh, nhưng nếu Tham Lang Hóa Lộc mà không có các sao sát kị xung phá, thì sau khi có được tiền bạc cũng dễ gặp cơ hội tránh được sụp đổ.
Có điều, “Hỏa Tham” và “Linh Tham” tối kị Địa Không, Địa Kiếp, nếu có hai sao này đồng cung hay hội chiếu, dù Tham Lang Hóa Lộc, vẫn phải cẩn thận đề phòng hao phá tiền bạc một cách đột ngột. Tuy tiền bạc đến nhanh nhưng đi cũng gấp, ở thời hiện đại, thường thường chỉ là phú quý trên giấy.
Tham Lang Hóa Lộc thích ở cung Mệnh, cung Tài Bạch. Bản chất của Tham Lang có sắc thái cạnh tranh (cở bạc cũng là cạnh tranh), lúc Tham Lang Hóa Lộc là có lợi trong chuyện cạnh tranh Nhưng nếu đồng thởi thấy có sát tinh, thì tăng thêm gian khổ trong chuyện cạnh tranh, thưởng thưởng sự việc thấy sắp thành công bỗng nhiên thay đổi theo chiều hướng khác, phải trải qua một phen nỗ lực mới được như mong muốn. Trong số sát tinh, thấy Đà La là nghiêm trọng nhất; Kình Dương là kế đó; còn có Địa Không, Địa Kiếp đồng cung, có lúc lại lợi về ra tay bất ngờ.

Sao Thái Âm hóa Lộc


Thái Âm là sao tiền tài, Hóa Lộc cũng chủ về tiền bạc, cho nên lúc Thái Âm Hóa Lộc là cùng một khí, làm tăng tác dụng chủ về tiền tài của Thái Âm, nguồn để kiếm tiền liên tục. Nhưng Thái Âm cần phải nhập cung miếu vượng, hoặc được thành “phản cách”, Thái Âm Hóa Lộc mới chủ về nguồn để kiếm tiền suôn sẻ trôi chảy. Nếu Thái Âm lạc hãm thì chưa chắc chủ về phú, có lúc chỉ là cảm thấy thỏa mãn về tinh thần, nhất là người sinh vào ban ngày. Sự cảm thấy thỏa mãn của Thái Âm Hóa Lộc khác với Thiên Đồng Hóa Lộc. Sự thỏa mãn của Thiên Đồng là từ nghịch cảnh chuyển thành thuận cảnh, đây là cảm giác thường thấy khi cất đầu dậy; còn sự thỏa mãn của Thái Âm là một kiểu mãn nguyện hài lòng, cảm thấy mình nhìn lên tuy không bằng ai, nhưng ngó xuống thì cũng hơn nhiều người. So sánh hai trường hợp, tất nhiên người Thái Âm Hóa Lộc trải qua sóng gió trắc trở ít hơn.
Cho nên “phú” của Thái Âm Hóa Lộc không thể lấy số lượng để tính toán so đo. Rất có thể số lượng tuy không bằng ai, nhưng cảm giác thỏa mãn lại lớn hơn cảm giác hăng hái suốt ngay. Hơn nữa, lúc Thái Âm Hóa Lộc có Lộc tồn đồng cung hoặc ở đối cung, đương nhiên tài phú của người này cũng không thiếu, mà còn ung dung kiếm tiền, do đó tốt hơn.
Thái Âm là sao tiền tài, Vũ Khúc cũng là sao tiền tài, nhưng Thái Âm chủ về “tĩnh”, chủ về cất giấu, còn Vũ Khúc chủ về “động”, cho nên tính chất tiền tài của nó khác với Vũ Khúc. Về đại thể, Thái Âm chủ về kế hoạch, là tĩnh mà không động, cho nên lúc Thái Âm Hóa Lộc thường thường là kế hoạch thành công, nhờ đó mà có được tiền bạc, làm tăng thêm ý vị mãn nguyện trong lòng, do đó còn chủ về tinh thần vui vẻ. Còn Vũ Khúc chủ về động, cho nên lúc Vũ Khúc hóa lộc là nhợ “động”, nhờ nỗ lực, dốc sức ra làm mà có được tiền bạc, rất vất vả cực nhọc, có cảm giác thành tựu, nhưng hơi khó thỏa mãn.
Có điều nếu Thái Âm lạc hãm, lại có sát tinh, Địa Không, Địa Kiếp đồng cung hoặc hội hợp ở tam phương, dù Hóa Lộc, kế hoạch cũng bị trở ngại, là điềm báo bị chèn ép, bất lợi, hoặc chủ về chỉ ngồi nói mà không làm, tuy có cảm giác thỏa mãn là mình liệu việc như thần, nhưng không mang lại lợi ích thực tế, mà trái lại, Thái Âm Hóa Lộc lại chủ về lao tâm lao trí, tinh thần không yên định, dễ bị thần kinh suy nhược, tình cảm không chuyên nhất. Lúc này chỉ có thể dè dặt, thận trọng hoặc “lấy tĩnh chế động”.
Thái Âm Hóa Lộc ắt cung Phúc Đức là Cự Môn Hóa Kị, cho nên còn phải xem Cự Môn đồng cung với sao nào, sau đó mới có thể quyêt định tính chất cụ thể của Thái Âm Hóa Lộc. Thông thường là chủ về lao tâm, thường thường phải dốc hết tâm trí rồi mới thành công. Lúc đó, sự cảm nhận của mệnh chủ không còn chú ý đến tiền bạc, mà chỉ khao khát kế hoạch của mình thành công, là cảm giác tự hào mà thôi.
Do tính chất của Thái Âm Hóa Lộc chủ yếu là cảm giác thỏa mãn về tài phú, vì vậy chỉ nên ở cung Mệnh, cung Tài Bạch, và cung Quan Lộc. Nếu ở cung Phúc Đức, càng nên tích cực tập trung vào kế hoạch tài chính, nếu mệnh chủ làm việc với tâm trạng chỉ quan tâm công việc, mà không thắc mắc vấn đề thu nhập, trái lại sẽ dễ mang lại lợi ích thực tế cho bản thân hơn. Nếu không, càng dễ phát triển thành tình trạng chỉ lo theo đuổi sự hưởng thụ. Lúc Thái Âm Hóa Lộc có Văn Xương, Văn Khúc và sao đào hoa hội hợp, tình hình sẽ càng như vậy. Cảnh ngộ gặp phải trong cuộc đời thường thường được quyết định trong một ý niệm, đây chính là một ví dụ. Nếu thấy thêm Địa Không, Địa Kiếp, đặc biệt chủ về cách xử lý sự việc chỉ màu mè bề ngoài, không có thực chất.
Thái Âm Hóa Lộc có thế làm việc trong ngành du lịch hoặc nghề hướng dẫn viên du lịch. Thái Dương hoặc Thái Âm mà gặp Văn Xương hay Văn Khúc Hóa Khoa, cũng có thể làm nghề bảo hiểm nhân thọ, buôn bán hoặc kinh doanh làm ăn có qua lại với nước ngoài, có thể kiếm được tiền mà còn chủ về vui vẻ và có tiếng tăm.
Thái Âm Hóa Lộc, nếu nhập cung miếu vượng mà không có sát tinh, ở cung Mệnh hoặc các cung lục thân, đều chủ về tình cảm thắm thiết. Có điều, nếu lạc hãm mà thấy sát tinh, thì trái lại, cuộc đời có những khiếm khuyết đáng tiếc khó bù đắp.
Nữ mệnh Thái Âm Hóa Lộc có thể khiến cho cơ thể càng thêm xinh đẹp quyến rũ, duyên với người chung quanh càng tốt hơn; nam mệnh co thể tăng thêm sức hấp dẫn đối với người khác phái. Nhưng nếu cung Phúc Đức có Cự Môn Hóa Kị (can Đinh), là chủ về lao tâm và nhiều thị phi; nếu gặp Văn Xương, Văn Khúc và sao đào hoa hội hợp thì càng đúng.
Thái Âm là sao chủ Điền Trạch, cho nên lúc Thái Âm Hóa Lộc chủ về gia đình hài hòa tốt đẹp, còn là điềm tượng sẽ mua nhà Cửa bất động sản, phần nhiều nhà ở có cảnh trí thanh nhã, mỹ quan xinh đẹp; còn chủ về hàng xóm láng giềng sống hài hòa và gia đình hòa hợp tốt đẹp.
Thái Âm Hóa Lộc miếu vượng ở Dậu, Tuất, Hợi, Tí, phàm việc gì cũng cát lợi, tâm tình vui vẻ, lạc quan, được hưởng thụ. Thái Âm Hóa Lộc ở cung Tuất thì Thái Dưong ở cung Thìn đối chiếu; người sinh năm Ất, Bính, Đinh là các cục Tài Quan, nếu có các sao cát tụ tập là chủ về đại quý, sự nghiệp có thể phát triển thành công, tinh thần vui vẻ.
Thái Âm Hóa Lộc lạc hãm ở Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, đây gọi là “Phá lộc”, phát không lâu; chủ về cuộc đời nhiều thị phi, nữ mệnh rất duyên dáng, gặp Văn Khúc, Đà La là mặt nhiều tàn nhang, nam dễ gặp mỹ nhân.
Thái Âm ở Tí hoặc Ngọ đồng cung với Thiên Đồng, đối cung có Lộc Tồn, là cùng với Thái Âm Hóa Lộc tạo thành cách cục “Song lộc giao lưu”; đồng thời còn có Thiên Đồng Hóa Quyền và Thiên Cơ Hóa Khoa đồng cung và hội chiếu, là cách cục “Cơ Nguyệt Đồng Lương”, rất tốt, chủ về người này có thành tựu, địa vị cao. Nhất là Thái Âm Hóa Lộc ở Tí, bất kể ở cung Mệnh, cung Tài Bạch, cung Quan Lộc, hoặc cung Thiên Di, đều luận là phú quý.
Thái Âm Hóa Lộc ở cung Tí có Thiên Đồng đồng cung, xưa gọi là “Đài quế lóng nước trong” (Thủy trừng quế ngạc), là làm chức quan trọng yếu mà thanh cao, là nhân tài dám can gián nói thẳng. Người sinh vào ban đêm năm Bính, Đinh là bậc trung lương, giàu sang phú quý, có thể khiến nguồn để kiếm tiền suôn sẻ thuận lợi, nam mệnh có thể tăng thêm sức thu hút người khác phái, nữ mệnh có thể tăng thêm sự xinh đẹp của nữ tính.
Thái âm ở cung ngọ là lạc hãm, nếu gặp Kình Dương là cách “Mã đầu đới tiễn”, người sinh vào ban đêm năm Bính Đinh thì có thể giàu sang phú quý.
Thái Âm Hóa Lộc ở Sửu hoặc Mùi, đồng cung với Thái Dương, chủ về miệng lưỡi thị phi, tranh cãi lời qua tiếng lại. Nam mệnh là phạm đào hoa, dễ có bạn gái, có thể lấy được vợ đẹp, nhưng tình cảm gặp sóng gió trắc trở, nữ mệnh thì dễ xảy ra tranh chấp bất hòa về tình cảm. Người sinh năm Mậu thích cung mệnh ở sửu, có nhật nguyệt  ở cung Mùi đến chiếu, người sinh năm Nhâm thích cung Mệnh ở Mùi, cũng nhờ Thái Dương, Thái Âm ở đối cung đến chiếu.
Thái âm Hóa Lộc ở Dần hoặc Thân, đồng cung với Thiên Cơ, lúc này Thiên Cơ Hóa Khoa, Khoa Lộc đồng cung, là người hiền hòa, coi trọng lý lẽ, sẽ không quan liêu, không lên giọng hách dịch, là một vị quan tốt, tương lai có thể phú quý. Thích nhất là các cung Mệnh, Tài, Quan thành cách cục “Tam kỳ chiếu mệnh”, có thể làm quan lớn.
Thái Âm Hóa Lộc ở Dần Hoặc Thân, đồng cung với Thiên Cơ Hóa Khoa, Thiên Đồng Hóa Quyền ở Thìn hoặc Tuất, là cách cục “Cơ Nguyệt Đồng Lương” “, là chủ về người này làm việc có thứ tự mạch lạc, sự nghiệp thành công. Người sinh năm Đinh thích ở cung Dần, là vượng địa; nếu gặp sát tinh xung chiếu, nam mệnh phần nhiều là do mẹ sau sinh ra, nữ mệnh đa số là do vợ bé hoặc kế mẫu sinh ra.
Thái Âm ở Mão hoặc Dậu, là độc tọa, cũng ưa Hóa Lộc, nam mệnh phần nhiều dễ có bạn tình; nữ mệnh đa số đều duyên dáng, xinh đẹp và đầy nữ tính.
Thái Âm ở Thìn hoặc Tuất, là độc tọa, đối cung có Thái Dương, nếu Thái Âm Hóa Lộc còn có thêm cát tinh hội chiếu, có thể giúp Thái Âm biểu hiện ưu điểm, nhưng cuộc đời dễ gặp rắc rối và miệng lưỡi thị phi.
Thái Âm ở Tỵ hoặc Hợi là độc tọa, thích Hóa Lộc ở cung Hợi hơn ở cung Tỵ. Tốt nhất là nữ mệnh, hơn nữa, ở cung Hợi ưu hơn cung Tỵ. Nếu Thái Âm Hóa Lộc ở cung Tỵ, nam mệnh sẽ cónphát triển, nhưng không bằng ở cung Hợi, con dễ bị tình cảm rắc rối.

Sao Thiên Đồng hóa Lộc


Thiên Đồng chủ về tay trắng làm nên, lúc nó Hóa Lộc, thông thường chủ về tăng thêm tài lộc, còn dễ có cơ duyên bất ngờ.
Thiên Đồng sau khi Hóa Lộc dễ sa vào dục lạc, cho nên ở vận hạn mà thấy nó sẽ tốt hơn là thấy ở nguyên cục. Bởi vì ở đại vận, lưu niên, bản chất của tình trạng sa vào dục lạc sẽ không nặng (lúc này cũng không cần sát tinh kích động làm cho hăng hái).
Thiên Đồng Hóa Lộc còn chủ về dự định, hẹn hò, ăn uống (vì ngoài tiền bạc, Hóa Lộc còn chủ về ăn chơi hưởng lạc). Thiên Đồng Hóa Lộc ở cung Tài Bạch, đừng nghĩ là quá tốt, bởi vì đó là tiền bạc trong dự tính, chỉ thu được một cách thuận lợi mà thôi. Lưu nguyệt và lưu nhật gặp nó, thường thường là biểu thị khai hội, tụ họp, hội nghị phi chính thức. Nếu cung Quan Tộc có Thiên Đồng Hóa Lộc biểu thị rất nổi trội, nói chuyện rất được người khác tán thưởng, yêu thích; về sự nghiệp rất thuận lợi.
Thiên Đồng thuần chủ về phương diện tính thần, cho nên Thiên Đồng Hóa Lộc thường thường chỉ chủ về sinh hoạt vật chất của Thiên Đồng, có thể khiến cho tinh thần cảm thấy đầy đủ, mà không chủ về đại phú đại quý.
Con người vốn khó cảm thấy thỏa mãn đối với sự hưởng thụ vật chất, nhưng nếu một người đã từng trải qua thất bại và khốn đốn về tiền bạc, sau đó bỗng được sung túc, đạt được nguyện vọng bao nhiêu năm nay, lúc này có lẽ người này cũng đã gần đến tuổi vãn niên, khi nhìn lại quá khứ của mình, họ sẽ không ngăn được cảm giác thỏa mãn. Đây chính là sự thỏa mãn của Thiên Đồng Hóa Lộc. Cho nên Thiên Đồng Hóa Lộc thường chủ về đến vãn niên mới được ổn định hoặc mới có thể trở thành giàu có, còn lúc nhỏ, tuổi trẻ thì có mối lo tổ nghiệp suy sụp; trung niên thì sóng gió dập dồn, cuộc, đời nhiều lần trải qua gian khổ; đến vãn niên, có thế nói là “khổ tận cam lai”, khó tránh sẽ có cảm giác thỏa chí, nghênh ngang đắc ý.
Thiên Đồng không kị sát tinh, có lúc còn thành lực kích động làm cho hăng hái, như cách cục “Phản bối” và “Mã đầu đới kiếm”.
Dù không thành cách cục, gặp một hai sát tinh cũng không ngại; có điều phần nhiều chủ về trung niên vất vả, đến vãn niên mới được hưởng thụ. Nếu Thiên Đồng Hóa Lộc mà có các sao ác sát hư hao, Địa Không, Địa Kiếp hội tụ, thì cuộc đời sẽ trải qua sóng gió trắc trở cũng lớn hơn; nói một cách tương đối, thành tựu ở tuổi vãn niên cũng sẽ nhỏ hơn, nhưng dễ tự mãn.
Thiên Đồng là sao chủ về tâm trạng, cho nên lúc Thiên Đồng Hóa Lộc, nhất là ở lưu niên hay đại vận, thường thường chủ về được tiền khiến người này vui vẻ. Nói “vui vẻ”, hoàn toàn không phải là có được số tiền lớn, có lúc chỉ là thắng ít tiền cá độ, đánh bài ăn được một số tiền, đều có thể “vui vẻ”. Có điều, lúc Thiên Đồng Hóa Lộc có Lộc Tồn đồng cung hoặc ở đối cung, thì tài khí vượng thịnh, có thể vận thế đột nhiên xoay chuyển từ nghịch sang thuận, từ đó thuận buồm xuôi gió. Nhất là lúc có Tả Phụ, Hữu Bật, hoặc Thiên Khôi, Thiên Việt đồng cung hay hội chiếu, thì cơ hội và sự trợ lực cùng đến, cục diện sẽ không nhỏ. Nhưng Thiên Đồng Hóa Lộc lại không ưa ở chung với Địa Không hoặc Địa Kiếp, không những dễ tự mãn, mà còn vì ở trong hoàn cảnh thuận lợi nên càng dễ có khuynh hướng to gan làm càn, do đó cũng dễ bị hao phá tiền bạc.
Nếu Thiên Đồng Hóa Lộc mà có sao cát lẫn sao hung đồng cung hay hội chiếu, cát hung không thể triệt tiêu nhau. Ví dụ, thấy Tả Phụ, Hữu Bật chủ về có trợ lực, nhưng đồng thời cũng thấy Địa Không, Địa Kiếp là chủ về to gan làm càn; cả hai điềm báo này đều có cùng lúc, tuyệt đối không vì có Tả Phụ, Hữu Bật mà có thể triệt tiêu nhân tố “làm càn dẫn đến thất bại” của Địa Không, Địa Kiếp.
Lúc Thiên Đồng Hóa Lộc đồng cung với các sao khoa văn, là tổ hợp sao quá ư phong nhã, dễ mê đắm trong thơ phú hoặc âm nhạc thích hưởng thụ về tinh thần mà thiếu chí tiến thủ. Tình trạng này không thích hợp với xã hội hiện đại cạnh tranh khốc liệt hiện nay.
Còn nếu có các sao đào hoa đồng cung, phần nhiều sẽ cảm thấy tinh thần trống rỗng, cho nên dễ chuốc vào mình chuyện tình cảm rối rắm.
Thiên Đông Hóa Lộc không nên có các sao đào hoa đồng cung hay hội chiếu. Đã thấy sao đào hoa thì không nên thấy thêm Văn Xương, Văn Khúc; nếu không, dễ thành lãng tử phong lưu, chủ về có tiền còn kèm tính chất phong lưu phóng túng, hoàn toàn không có liên quan đến tác dụng “tay trắng làm nên”. Lúc thấy thêm Địa Không, Địa Kiếp đồng cung, nhất là gặp trường hợp vừa thuật ở trên, rất dễ phát triển thành không tốt không xấu; phong lưu tài tử thời cổ đại, bọn nhàn rỗi nhà giàu, là mẫu người này.
Lúc các sao giống như trên hội tụ ở cung Tật Ách, là tinh hệ chủ về bệnh thận, nữ mệnh là bệnh tử cung. Vương Đình Chi rất hoài nghi loại tinh hệ này còn biểu thị căn bệnh AIDS đang uy hiếp nhân loại hiện nay, đáng tiếc ông chưa tìm được lá số cụ thể để chứng nghiệm.
Thiên Đông Hóa Lộc ở các cung lục thân, đều chủ về quan hệ tình thân khá tốt, nhưng cũng phải trải qua són gió trắc trở trước. Ví dụ như cung Phu Thê thấy Thiên Đông Hóa Lộc, kết hôn sớm mà vợ chồng ân ái hạnh phúc thường thường sẽ sinh ly tử biệt, nhưng cuối cùng cũng có thể có được hôn nhân tốt đẹp, vui vẻ thanh thản. Tóm lại, tính chất đặc biệt của Thiên Đông Hóa Lộc là tăng mạnh tính chất hưởng thụ về tinh thần.
Can năm sinh, can cung Mệnh, hoặc can các cung lục thân, khiến Thiên Đông Hóa Lộc: Thiên Đồng là phúc tinh, Hóa Lộc chủ về tiền bạc, hai tính chất này hợp lại là “phúc lộc” phù trợ nhau, có thể  làm tăng phúc khí và sự thong dong  nhàn nhã, nhưng nam mệnh hơi ngại sẽ thiếu tinh thần tạo dựng sự nghiệp, nữ mệnh thì tốt hơn (vì Thiên Đồng là phúc tinh, cho nên không thích hợp hóa lộc, nếu thêm Hóa Lộc thì càng lười hơn, làm việc không xông xáo, thiếu tích cực)
Thiên Đồng vốn là sao cát tường; lúc nó Hóa Lộc sẽ chủ về phúc lộc tụ lại, tốt không thể tả. Nếu không có sát tinh đồng cung, có thể an hưởng tuổi thọ, bình sinh chẳng có chí hướng gì đặc biệt, chỉ ưa thong dong nhàn nhã, cuộc sống yên ả; cho nên trong quá trình sống người này thiếu tinh thần tiến thủ tạo dựng sự nghiệp. Nữ mệnh tuy diện mạo sáng sủa, có duyên với người chung quanh, nhưng dễ bị tình cảm rắc rối. Phúc tinh Thiên Đồng Hóa Lộc, lúc còn nhỏ thì được trưởng bối chăm sóc, phần nhiều chỉ biết ăn chơi hưởng lạc, đến già thì được con cái hiếu kính phụng dưỡng, tha hồ ngao du sơn thủy, hoặc được hưởng niềm vui thú của gia đình. Nếu có thêm cát tinh đến phù trợ, có thế được cha mẹ tổ tiên để lại tài sản.
Thiên Đồng Hóa Lộc ở Tí, Ngọ, đồng cung với Thái Âm, nữ mệnh có triển vọng, nam mệnh dễ được lọt mắt xanh của người khác phái.
Thiên Đồng ở Sửu hoặc Mùi đồng cung với Cự Môn, Hóa Lộc có thế làm giảm tình trạng vất vả và thị phi của Thiên Đồng, Cự Môn, và tăng thêm sự thành tựu trong sự nghiệp.
Thiên Đồng Hóa Lộc ở Dần hoặc Thân, đồng cung với Thiên Lương, nam mệnh sự nghiệp thuận lợi, nữ mệnh dễ bị tình cảm rắc rối. (Có thuyết cho rằng, nếu Thiên Đồng có Thiên Lương đồng cung, là khổ trước sướng sau, vì Thiên Lương có tác dụng hóa giải tai ách. Tóm lại, phải tìm “hung” và “nạn” để trui rèn, nếu không làm sao Thiên Lương hóa giải tai ách? Trong tình huống này, thông thường mệnh chủ sẽ phải than thở, tuy cung Mệnh có phúc tinh, nhưng một chút phước cũng không hưởng được!)
Thiên Đồng Hóa Lộc ở Mão hoặc Dậu là độc tọa, lúc này Thiên Đồng ưa Hóa Lộc, có thể nhờ tam phương hội chiếu làm cho Thiên Đồng tăng thêm sức mạnh.
Thiên Đồng ở Thìn hoặc Tuất là độc tọa, đối cung có Cự Môn, vì vậy Thiên Đồng Hóa Lộc sẽ bị tăng thêm miệng lưỡi thị phi, mà giảm thấp năng lực tạo dựng sự nghiệp.
Thiên Đồng Hóa Lộc ở Tỵ hoặc Hợi là độc tọa, nam mệnh thiếu năng lực tạo dựng sự nghiệp, nữ mệnh hiền thục, nhưng dễ sa vào tình cảm rắc rối. Thiên Đồng Hóa Lộc ở Tị, có thêm Thiên Mã, Lộc Tồn, là mạng vợ vua; nhất là người sinh giờ Dậu, Văn Xương Hóa Khoa ở Sửu, nam mệnh tài hoa hơn người, có thể kế thừa ngôi vị hoàng đế, nữ mệnh là hoàng hậu.

Sao Thiên Cơ hóa Lộc ở Can Ất


Thiên Cơ là sao trí tuệ và năng lực, sở trường trù tính kế hoạch. Thiên Cơ Hóa Lộc miếu vượng, thì kế hoạch có thể đạt được như ý nguyện, Thiên Cơ miếu vượng Hóa Lộc, lợi về tạo dựng sự nghiệp hoặc thay đổi công việc. Vận hạn gặp Thiên Cơ Hóa Lộc vượng thêm cát tinh, là có triển vọng thăng tiến; nếu lạc hãm còn gặp sát tinh tụ tập, thì bị điều động công tác hoặc bị thay đổi chức vụ, chỉ tăng thêm vất vả bận rộn mà thôi, lợi ích thực tế không nhều.
Thiên Cơ Hóa Lộc thêm Thiên Mã, thích hợp kinh doanh làm ăn theo kiểu chủ động tìm thị trường, hoặc công việc làm thêm bên ngoài, hoặc làm ăn buôn bán.
Thiên Cơ Hóa Lộc ở Tí hoặc ngọ, nên động mà không nên tĩnh, nhưng Hóa Lộc ở Tí, Ngọ là hãm địa, vì vậy chủ về người này chỉ có vẻ bề ngoài, còn bên trong rỗng tuếch, đây gọi la “phá Lộc” .
Thiên Cơ là trôi nổi, không ổn định, sau khi Hóa Lộc, khuynh hướng trôi nổi, không ổn định sẽ không thay đổi trong vòng vài năm. Cho nên thường thường là biểu thị lưu thông lượng lớn, có thể nói là luân chuyển hàng hóa, nhưng đều không biểu thị có thể thành cự phú. Tính chất này, ở thời cổ đại rất thích hợp với kinh doanh buôn bán, cho nên cung Mệnh mà thấy Thiên Lương, còn cung Tài Bạch thấy Thiên Cơ Hóa Lộc, càng xác định là có mạng làm giàu bằng kinh doanh buôn bán, còn lợi về làm công việc bán lẻ. Nhưng ở thời hiện đại, tính linh động của Thiên Cơ thường thường biến thành làm nghề phải động não, như kế hoạch tài vụ, phát triển thị trường hoặc lập trình máy tính, v.v… vì vậy Thiên Cơ Hóa Lộc càng thích hợp với các ngành nghề này, vì có thu nhập khá cao. Hễ người thuộc cách cục “Cơ Nguyệt Đồng Lương” đại để đều như vậy.
Nhưng bất kể thế nào, Thiên Cơ Hóa Lộc rốt cuộc cũng không phải là cách cục cự phú, mà cần phải dựa vào hậu trường (người đứng sau lưng) để có thu nhập cao. Cho nên thường không thích hợp với những công việc quá độc lập, tự dựng lên cơ nghiệp. Nếu kinh doanh hoàn toàn độc lập, thì trái lại, sẽ rất dễ thất vọng.
Do Thiên Cơ có bản chất biến động không ngừng, cho nên lúc Thiên Cơ Hóa Lộc càng biểu thị tình trạng thay đổi công việc. Trong các tình huống thông thường, là chủ về nhờ thay đổi công việc mà có được cơ hội phát triển mới. Nhưng Thiên Cơ Hóa Lộc có lúc chỉ là kiêm nhiều chức vụ, mà không thay đổi công việc. Điều phân biệt thứ hai, hễ Thiên Cơ Hóa Lộc mà thấy sao lẻ phù tá, phần nhiều là chủ về kiêm nhiều chức vụ. Luận đoán này khá chính xác. Nếu Thiên Cơ Hóa Lộc mà cùng lúc còn thấy sao Hóa Quyền và sao Hóa Khoa, lại thấy thêm cát tinh, thì tiền đồ của việc kiêm nhiều chức vụ (hoặc tiền đồ sau khi thay đổi công việc) nhất định phải tốt hơn nghề nghiệp ban đầu.
Nếu Thiên Cơ Hóa Lộc gặp đủ Quyền Khoa Kị hội chiếu, thì công việc bị buộc phải thay đổi sau khi thay đổi sẽ trải qua chút sóng gió trắc trở rồi phát triển tốt đẹp. Hoặc là, công việc mới khá hao tổn tinh thần và tốn nước bọt. Nếu đồng thời còn thấy sát tinh là biểu thị nạn tai hung hiểm.
Bản chất của Thiên Cơ là linh động, tùy cơ ứng biến, nhạy bén, có khả năng thích ứng cao, cho nên lúc hóa lộc ắt có thể chủ động khai thác cơ hội để thành sự nghiệp, nhờ vậy mà thu hoạch được lợi ích. Nhưng con người linh động, có thể tùy cơ ứng biến, thường thường lại thiếu quyết đoán để dựng nên sự nghiệp lớn, dễ xa vào công việc mang tính đầu cơ, hoặc dùng tiểu xảo để mưu lợi, vì vậy, chắc chắn có những hạn chế đáng kể, làm ảnh hưởng đến sự thành tựu sự nghiệp và tài phú. Cho nên Thiên Cơ hóa lộc chỉ là nhân tài cố vấn tham mưu, chủ về trù tính kế hoạch, thiết kế, hoặc làm công việc đi tới đi lui, mang năng lực ra phục vụ người khác, như mội giới…
Do tính linh động nên cũng thường không làm một nghề, hay đứng núi này trông núi nọ. Cho nên hễ Thiên Cơ hóa lộc ở cung Mệnh, thì đồng thời cần lưu ý các sao ở cung Phúc Đức, và cung Quan Lộc. Nếu các sao này có tính chất ổn định, còn có lực tiến thủ thì cát, có tính chất không ổn định mà còn do dự, lưỡng lự thì sẽ ảnh huổng đến Thiên Cơ hóa lộc ở cung Mệnh, khiến thành tựu của người này càng nhiều hạn chế.
Đặc trưng chủ yếu của Thiên Cơ là “động”, còn Hóa Lộc là chủ về tiền tài, sau khi Thiên Cơ hóa lộc, người này thường hay có nhiều tiền qua tay, nhưng tiền đến rồi tiền đi, lợi về phục vụ người khác, cho nên còn gọi là “tiền của thiên hạ”. Tiền bạc của Thiên Cơ hóa lộc rất khó giữ lâu, vì vậy nếu cung Điền Trạch tốt thì nên chú ý cơ hội mua bất động sản; nếu không, nên xem cung Phu Thê có các sao giữ tài phú hay không. Trong vận hạn Thiên Cơ hóa lộc, bạn có thể trù tính kế hoạch, đầu tư vào các hạnh mục dễ thành công. Người lấy trí tuệ để kiếm tiền thì có lợi. Trong thời gian này sẽ mua sắm thêm máy móc, cũng thích hợp nghiên cứu huyền học.
Thiên cơ chủ về “thọ”, hóa khí là “thiện”(khéo léo), là nói người Thiên Cơ nhập cung Mệnh thích nói lý lẽ, lời nói khéo tôn trọng người, chớ không phải nói người có Thiên Cơ ở cung Mệnh là lương thiện. Thiên Cơ là sao trí tuệ và năng lực, thích động não, thích suy nghĩ, mà suy nghĩ thì có nếp nghĩ chính, mà cũng có thể là nếp nghĩ tà. Nếu Thiên Cơ hóa Quyền, có thể sẽ hại chết người, hóa khoa thì trái lại, không động não, hóa kị là nhà phát minh, tư tưởng gia, vất vả suy nghĩ tìm tòi, còn Thiên Cơ hóa lộc là suy nghĩ nhiều hơn làm.
Thiên Cơ Hóa Lộc tối kị đồng cung với Hỏa Tinh và Linh Tinh. Thiên Cơ đã trôi nổi, không ổn định, hai sao Hỏa Linh càng làm tăng tính trôi nổi, không ổn định của nó. Kết quả tốt nhất của Hóa Lộc trong trường hợp này cũng chỉ là hơi giàu sang trong nhất thời, sau khi vận tốt qua đi có khả năng sẽ phá hao và thất bại. Cho nên phải làm thế nào để giữ gìn thành quả đã đạt được, đó mới là điều mà mệnh chủ phải nhắc nhở bản thân mình.
Cũng vậy, Thiên Cơ Hóa Lộc cung với Địa Không, Địa Kiếp; Địa Không, Địa Kiếp vốn có đặc tính “trở ngại, chèn ép, bất lợi”; mà Thiên Cơ Hóa Lộc thì không thể hóa giải “trở ngại, chèn ép, bất lợi”; do đó có lúc biến thành tình trạng: tuy nhất thời gặp được cơ hội, nhưng hơi có tí lợi lộc thì liền vì vậy mà bị hao phá tiền bạc.
Hễ Thiên Cơ Hóa Lộc, phần nhiều chủ về trong vận hạn này mệnh chủ suy nghĩ nhiều hơn làm. Nếu là can năm sinh khiến Thiên Cơ Hóa Lộc, chủ về cuộc đời của người này là suy nghĩ nhiều hơn làm.
Nếu Thiên Cơ Hóa Lộc gặp cát tinh và sát tinh xuất hiện cùng lúc, thì không nên lộ sự sắc sảo, hoặc vì thành tựu nhất thời mà kiêu ngạo. Nhất là người làm quan càng phải như vậy, nếu không thành bại sẽ liền nhau, kết cuộc sẽ không toàn mỹ.
Thiên Cơ đồng cung với Cự Môn, mà Thiên Cơ Hóa Lộc, không gặp sát tinh, có thể phú quý, nhưng phú quý không được lâu.
Thiên Cơ Hóa Lộc, còn Liêm Trinh nhập cung Phụ Mẫu hoặc cung Tật Ách, thì người này phải cẩn thận đề phòng Hỏa hoạn.
Thiên Cơ có tính trôi nổi, không ổn định, lợi về công việc dịch vụ (mang tính phục vụ); lúc Hóa Lộc tuy cũng chủ về tiền bạc, nhưng do tính chất đặc biệt của nó là “động”, toàn là “còng lưng làm cho người khác hưởng”, nên khó tụ tài, không nên kinh doanh buôn bán.
Thiên Cơ độc tọa ở Tí hoặc Ngọ, Hóa Lộc có thể làm Thiên Cơ tăng sức mạnh, tiền bạc cũng hơi có dư.
Thiên Cơ Hóa Lộc độc tọa ở Sửu hoặc Mùi, nếu gặp cát tinh, là chủ về tiền đến rồi tiền đi; nếu gặp sát tinh, thì thu nhập không bằng chi xuất.
Thiên Cơ Hóa Lộc ở Dần hoặc Thân, lúc này còn có Thái Âm Hóa Kị đồng cung, Lộc Kị đồng cung ở cung Mệnh, chủ về người này gặp nhiều sóng gió trắc trở trong tình cảm, có sự cách biệt giữa hai thế hệ hoặc hình khắc với mẹ, vợ, và con gái. Thiên Cơ đồng cung hoặc đối cung với Thái Âm, nếu Thiên Cơ Hóa Lộc sắc thái lưu động vô cùng nặng nề, do đó cũng là biểu thị rất mạnh về giác quan thứ sáu. Thiên Cơ Hóa Lộc ở Dần hoặc Thân đồng cung với Thái Âm Hóa Kị, còn chủ về người này thường hay bội chi, nhưng không đến nỗi thu nhập không bằng chi xuất
Thiên Cơ Hóa Lộc ở Mão hoặc Dậu, đồng cung với Cự Môn, là chủ về người này phải trải qua cạnh tranh, vất vả, hao tổn lời nói, mới kiếm được tiền, mà còn lúc thành lúc bại, nhưng có thể có dư.
Thiên Cơ Hóa Lộc ở Thìn hoặc Tuất, đồng cung với Thiên Lương Hóa Quyền, chủ về tình trạng tài chính của người này không ổn định, sẽ vì vấn đề tiền bạc mà sinh buồn phiền.
Thiên Cơ ở Tỵ là độc tọa, đối cung có Thái Âm miếu vượng, tốt hơn so với trường hợp Thiên Cơ Hóa Lộc ở Hợi, đối cung là Thái Âm lạc hãm; nếu gặp thêm Thiên Mã thì càng cát tường.
Thiên Cơ ở Hợi là độc tọa, đối cung là Thái Âm lạc hãm, kém hơn so với trường hợp Thiên Cơ Hóa Lộc ở Tỵ, nhưng Hóa Lộc có thể làm tăng sức mạnh của Thiên Cơ; nếu lúc này không có sát tinh hội chiếu, mà gặp Thiên Mã, vẫn chủ về cát.