Các bài viết về "phong thủy"
Hiển thị các bài đăng có nhãn phong thủy. Hiển thị tất cả bài đăng

 

Tăng Quảng - Thẩm Thị Huyền Không Học

Lời giới thiệu xuất bản

Huyền Không Phong Thủy học là một nhánh trong môn khoa học Kham Dư (Phong Thủy), có lịch sử lâu đời. Nó bắt nguồn từ lý số Hà Lạc, dựa trên Can Chi, Âm Dương, Cửu Cung và Bát Quái. Trải qua hàng nghìn năm diễn giải và chắt lọc của các bậc tiên hiền, Huyền Không Phong Thủy đã hình thành một hệ thống tri thức có cấu trúc chặt chẽ và tính logic cao, từ lâu đã được các thầy phong thủy coi là báu vật, là bí kíp không truyền của Dương Quân Tùng, Tưởng Đại Hồng và Chương Trọng Sơn. Tác phẩm “Thẩm Thị Huyền Không Học” là đại tác phẩm Huyền Không học của phong thủy gia Thẩm Trúc Nhưng thời nhà Thanh, được đúc kết từ trí tuệ của ông thông qua việc nghiên cứu “Âm Dương Nhị Trạch Lục Nghiệm” của Chương Trọng Sơn.

Thẩm Trúc Nhưng (1849-1906), tên thật là Thẩm Thiệu Huân, tự là Trúc Nhưng, người Tiền Đường, Chiết Giang thời nhà Thanh. Ông sinh vào tháng 6 năm Đạo Quang thứ 29 và mất vào tháng 6 năm Quang Tự thứ 32. Ông là phong thủy gia nổi tiếng thời Thanh, là nhân vật quan trọng trong Huyền Không Phong Thủy học. Ngay từ nhỏ, Thẩm Trúc Nhưng đã có niềm đam mê mãnh liệt đối với phong thủy học, vì vậy ông đã đọc rất nhiều sách và thường xuyên khảo sát các ngôi mộ khác nhau. Ban đầu, ông học phong thủy phái Tam Hợp, nhưng sau nhiều lần kiểm chứng thực tế, nhận thấy rằng phái phong thủy này có nhiều sai sót và khiếm khuyết. Sau đó, ông phát hiện ra phong thủy Huyền Không và nhiều lần kiểm nghiệm thành công, nên ông quyết định tập trung toàn bộ tâm sức vào việc nghiên cứu. Năm 1875, khi 26 tuổi, Thẩm Trúc Nhưng cùng với người thân là Hồ Bá An đến Vô Tích để tìm cách giải mã phương pháp Phi Tinh Huyền Không. Họ đã tìm đến hậu nhân của đại sư phong thủy Huyền Không nổi tiếng Chương Trọng Sơn, nhưng tiếc rằng sau vài tháng, họ vẫn chưa tìm hiểu được những huyền cơ thâm sâu. Về sau, Thẩm Trúc Nhưng dùng một số tiền lớn để mượn bộ sách “Âm Dương Nhị Trạch Lục Nghiệm” của Chương Trọng Sơn trong một đêm, hai người đã thức trắng đêm sao chép toàn bộ tác phẩm này. Thẩm Trúc Nhưng từ đó đã dùng cả đời mình để nghiên cứu kỹ lưỡng cuốn sách này, cuối cùng đã thấu hiểu một cách sâu sắc. Từ đó, ông có thể giải thích thông suốt phong thủy Huyền Không học từ Dương Quân Tùng đến Tưởng Đại Hồng và Chương Trọng Sơn, đồng thời bổ sung thêm các chú thích, thực sự mở ra cánh cửa huyền bí của Huyền Không Phong Thủy học. Trong cuốn “Thẩm Thị Huyền Không Học”, Thẩm Trúc Nhưng đã tiết lộ những bí mật không được truyền lại từ các bậc tiền nhân, dẫn dắt hậu học nghiên cứu Huyền Không Phong Thủy theo đúng đường lối, tạo được thành tựu xuất sắc trong lĩnh vực Huyền Không Phong Thủy học. Ông được các thế hệ nghiên cứu Huyền Không Phong Thủy sau này kính trọng, và tác phẩm “Thẩm Thị Huyền Không Học” cũng trở thành một tác phẩm kinh điển mang tính thời đại trong học thuật phong thủy.

“Thẩm Thị Huyền Không Học” được xuất bản thành bốn quyển sau khi Thẩm Trúc Nhưng qua đời, do con trai trưởng của ông là Thẩm Tổ Miên cùng các môn sinh biên tập từ những bản thảo mà ông để lại lúc sinh thời. Sau đó, trong các lần tái bản, con trai trưởng của Thẩm Trúc Nhưng cùng các môn sinh lại thu thập thêm nhiều nội dung liên quan từ bản thảo, thư tín và ghi chép của ông, bổ sung vào sách thêm hai quyển, nâng tổng số lên sáu quyển, đổi tên thành “Tăng Quảng Thẩm Thị Huyền Không Học”, trở thành một cuốn sách không thể thiếu cho những ai nghiên cứu Huyền Không Phong Thủy học.

Lần xuất bản này được dựa trên phiên bản “Tăng Quảng Thẩm Thị Huyền Không Học” năm Dân Quốc 23 (1934) để chỉnh lý và phát hành. Trong quá trình chỉnh lý, dù đã hết sức cẩn trọng chỉnh sửa, nhưng không tránh khỏi có những sai sót, mong quý độc giả không tiếc lời chỉ giáo.

Diêu Quốc Hoa - Kha Dụ

Bắc Kinh, tháng 5 năm 2011


Tăng Quảng Thẩm Thị Huyền Không Học – Quyển 1

Tựa sách “Tăng Quảng Thẩm Thị Huyền Không Học”

Tôi từng nghiên cứu nhiều sách địa lý liên quan đến việc táng tá, nhưng cảm thấy các thuyết trong đó phức tạp và rối rắm, khiến người đọc dễ rơi vào sự mâu thuẫn nối tiếp nhau. Cho đến khi đọc cuốn “Thẩm Thị Huyền Không Học”, tôi thấy trong lời tựa của Thái sử Giang Du Sinh có câu: “Loan đầu có chứng cứ thực tế, cổ kim không hề có sách giả. Lý khí chủ yếu xét trên tính hư vô, cổ kim lại có nhiều bí quyết giả tạo”. Câu nói này quả thật rất đúng! Từ đó tôi mới hiểu ra rằng trước đây mình chưa từng thật sự học, và việc học mới chỉ thật sự bắt đầu từ đây.

Khi xem xét học thuật của tiên sinh Trúc Nhưng, tôi nhận thấy rằng tiên sinh vào thời kỳ học thuật suy thoái và lu mờ này, đã nắm được ý nghĩa của “thiên nhân hợp nhất”, có ý chí mạnh mẽ trong việc làm sáng tỏ tri thức địa lý khắp thiên hạ. Thật đáng gọi là một học giả vẹn toàn!

Vào mùa đông năm Nhâm Thân tại Hàng Châu, tôi đã gặp triết tự của tiên sinh, tức Tiết Dân. Tiết Dân cũng là một người có phong cách khiêm nhường, nho nhã, mang đậm dấu ấn của tiên sinh. Ông luôn tuân thủ và bảo tồn học thuật của tiên sinh mà không thay đổi. Cuốn sách này là một trong những tác phẩm để lại của tiên sinh, tiếc rằng chưa được ông chỉnh lý trước khi mất. Nhờ Tiết Dân cùng Giang Du Sinh thu thập các bản thảo còn sót lại, chỉnh lý lại thành sách, nên mới hoàn thành được tác phẩm này. Kể từ khi phát hành, sách đã được các học giả coi trọng trong thời gian dài. Sau đó, Tiết Dân lại thu thập thêm nhiều bản thảo của tiên sinh chưa được đưa vào sách, nhờ sự nỗ lực trong nhiều năm mà sách dần trở thành một công trình đồ sộ. Tiếc thay, Du Sinh đã mất, còn Tiết Dân vì bận rộn với công việc chính sự mà không có thời gian hoàn chỉnh tác phẩm. Do đó, tác phẩm này được hoàn thiện bởi tiên sinh Vương Quân Tắc Tiên, và được đặt tên là “Tăng Quảng Thẩm Thị Huyền Không Học”. So với bản gốc, sách đã được bổ sung thêm hơn một nửa nội dung. Trong sách còn có di tác của Du Sinh do Tắc Tiên bổ sung và giải thích thêm, cùng với “Khởi Tinh Lập Thành Đồ” của tiên sinh Thân Quân Thinh Thi. Đến đây, các luận thuyết về Huyền Không đã được cuốn sách này trình bày đầy đủ. Hai tiên sinh Tắc Tiên và Thinh Thi đều là bạn đồng học của Tiết Dân, và đều có thể truyền lại học thuật của tiên sinh Trúc Nhưng. Khi sách sắp đưa ra khắc in, nhờ tiên sinh Chu Quân Gia Lâm trợ giúp kinh phí, mới chỉ đủ một nửa, tôi cũng góp thêm một phần để có thể hoàn thành tác phẩm này.

Hiện nay, những người bàn về địa lý thường cho rằng “Loan đầu là hình, lý khí là pháp”, nhưng thực chất không phải như vậy. Loan đầu với tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ, tiền Chu Tước, hậu Huyền Vũ, đây vốn dĩ là hình thế. Còn lý khí với nam là Ngọ, bắc là Tý, đông là Mão, tây là Dậu, cũng là những hình thế có thể dựa vào. Làm sao có thể nói lý khí là không hình tướng được chứ? Trong Hệ Từ Truyện của Kinh Dịch có viết: “Hình nhi thượng giả vi chi Đạo, hình nhi hạ giả vi chi Khí” (cái ở trên hình là Đạo, cái ở dưới hình là Khí). Loan đầu, với từng ngọn núi và dòng nước riêng lẻ, chính là Khí, thuộc về “hình nhi hạ” (thuộc về cái dưới hình). Còn một ngọn núi và một hướng của lý khí, chính là Đạo, thuộc về “hình nhi thượng” (thuộc về cái trên hình). Kinh Dịch dùng hình để bao quát cả trên và dưới, Khí thì thực chứng, Đạo thì hư vô. Vậy nên Loan đầu và lý khí tuy là một mà hai, hai mà một vậy.

Có người cho rằng phương pháp bày bố của Huyền Không không phải là cổ pháp. Thật ra họ không biết rằng điều này đã khởi nguồn từ Dịch Vĩ, và được Khang Thành giải thích làm cho rõ ràng hơn. Trong Chú giải của Hậu Hán Thư - Trương Hành Truyện, cũng đã trích lược thuyết này. Các bậc danh nho đều đã ghi chép lại, vậy tại sao mọi người lại không tìm hiểu mà chỉ trích? Hơn nữa, đồ hình Tử Bạch vốn bắt đầu từ “Chính Quang Lịch” thời Bắc Ngụy, lịch thư hiện nay vẫn học theo pháp này mà không hề suy suyển. Ôi, còn nghi ngờ gì nữa chứ! Khi sách hoàn thành, tôi viết lời tựa này để phác thảo sơ lược về nội dung.

Tháng 8, năm Dân Quốc thứ 22 (1933),

Kính cẩn viết lời tựa tại Ngô Huyện, Giang Tô

Chu Sư Hùng


Lời đề từ sách “Thẩm Thị Huyền Không Học” (tái bản)

Thiên địa nhất hồ, thì trừu kỳ bí. 
Thức giả ngộ chi, phủ thập diệc dịch.
Tự sạn mậu thuyết, nhược chân nhược ngụy. 
Đại hảo loan đầu, ngộ vu lý khí.
Kham dư chi học, kỳ lai hữu tự. 
Âm dương lưu tuyền, lập pháp y thủy.
Quản quách dương tằng, thừa kỳ thống hệ. 
Thiên tái du du, hào ly thiên lý.
Nhất hành diệt man, phản dĩ họa kỷ. 
Vân gian hảo biện, đồ đa cấm kỵ.
Trác tai tiên sinh, ứng vận nhi khởi. 
Hà lạc thị tông, huyền không thị ký.
Thái ất du cung, nguyên vận chưởng chỉ. 
Thuận nghịch ai bài, suy vương sinh tử.
Đắc lệnh tắc thủ, thất lệnh tắc khí. 
Oát toàn thế vận, thừa bình khả ký.
Cứu tế chi tâm, tất sinh thị thỉ. 
Đoạn giản linh thiên, tích thành phế chỉ.
Gia học uyên nguyên, canh tục khả hỉ. 
Ngô kính điệt dân, bất quý tiêu tử.
Nhĩ hữu ngô hữu, tân nông thái sử. 
Hỗ đính thành thư, bất trụy quyết chỉ.
Nãi cập hạ tẩu, đắc khuy nhất nhị. 
Như tham phật thừa, ngũ thể đầu địa.
Hận phạp mỹ chất, vị năng triệt để. 
Liêu si lý từ, tá thân diên xí.

Dịch nghĩa

Trời đất như một cái bình lớn, thời cơ sẽ mở ra điều huyền bí của nó. Người có tri thức gặp được, như cúi xuống nhặt lấy, dễ dàng biết bao.

Tự pha trộn các thuyết sai lệch, như thật như giả. Loan đầu vốn tốt đẹp, nhưng lại sai lầm bởi lý khí.

Học thuật Kham Dư, từ xưa đến nay đã có căn nguyên. Âm dương lưu chuyển, lập pháp bắt đầu từ đó.

Quan Quách Dương Tăng, kế thừa hệ thống của nó. Trải qua ngàn năm, sai lệch một chút cũng dẫn đến ngàn dặm.

Đường Nhất Hành dẹp loạn, ngược lại mang họa vào thân. Kẻ tranh biện ở Vân Giản, chỉ toàn tạo thêm điều cấm kỵ vô nghĩa.

Thật là đáng khâm phục thay tiên sinh, ứng thời mà xuất hiện. Lấy Hà Lạc làm tông chỉ, dùng Huyền Không làm chỗ dựa.

Thái Ất du cung, nắm rõ nguyên vận. Thuận nghịch sắp xếp, biết rõ suy thịnh, sống chết.

Được lệnh thì dùng, mất lệnh thì bỏ. Xoay vần thế vận, có thể mong đợi thời thái bình.

Tấm lòng cứu thế, cả đời nguyện hướng đến. Bản thảo ngắt quãng, tiếc thay chỉ như giấy bỏ đi.

Học thuật gia đình thâm sâu, truyền thừa liên tục, thật đáng vui mừng. Tôi kính trọng Tiết Dân, xứng đáng là người kế thừa của tiên sinh.

Gần đây có người bạn của tôi, Thái sử Thân Nông, cùng nhau biên soạn thành sách, không làm mất đi ý chỉ của tiên sinh.

Cuối cùng truyền đến kẻ hậu học như tôi, chỉ hiểu được đôi phần. Như tham cứu Phật pháp, cúi lạy tôn kính năm vóc sát đất.

Tiếc thay tài trí nông cạn, chưa thể thấu triệt hoàn toàn. Tạm dùng lời lẽ đơn sơ, để thể hiện chút lòng ngưỡng mộ và mong muốn.

Tháng đông năm Nhâm Thân

Kẻ hậu học phụng viết: Giang Ngũ Dân, người Phụng Hóa


Phụ mẫu - Tiên thiên bát quái


Lấy Càn là cha, Khôn là mẹ, Chấn trưởng nam, Khảm thứ nam, Cấn là thiếu nam, Tốn là trưởng nữ, Ly là thứ nữ, Đoài là thiếu nữ.

Thiên ngọ kinh viết: "bát quái chi trung, kinh tứ vị nhi khởi phụ mẫu"
Kinh tứ vị lấy âm dương làm trọng yếu mà khởi thuận hay nghịch.
- Khảm 1 thuận tứ vị vi Tốn 4, tắc Khảm 1 đích phụ mẫu thị Tốn 4
- Chấn 3 thuận tứ vị vi Khôn 2, tắc Chấn 3 đích phụ mẫu thị Khôn 2
- Ly 9 thuận tứ vị vi Càn 6, tắc Ly 9 đích phụ mẫu thị Càn 6
- Đoài 7 thuận tứ vị vi Cấn 8, tắc Đoài 7 đích phụ mẫu thị Cấn 8
- Khôn 2 thuận tứ vị vi Chấn 3, tắc Khôn 2 đích phụ mẫu thị Chấn 3
- Tốn 4 thuận tứ vị vi Khảm 1, tắc Tốn 4 đích phụ mẫu thị Khảm 1
- Cấn 8 thuận tứ vị vi Đoài 7, tắc Cấn 8 đích phụ mẫu thị Đoài 7
- Càn 6 thuận tứ vị vi Ly 9, tắc Càn 6 đích phụ mẫu thị Ly 9
Do vậy có 4 cặp tổ hợp phụ mẫu như sau: 1 - 4, 2 - 3, 7 - 8, 6 - 9.

Nguyên tắc của phép này chính là đem 1 quái từ hậu thiên về tiên thiên, rồi tiên thiên thư hùng giao cấu, sau đó quy về hậu thiên
Người viết: Minh Tuệ


Thiên Địa Nhân tam kiếp

thuyết tam tài

Trời có tam khí cần phải phân biệt là Hồng khí, Bạch khí, cùng Hoàng khí.
Long có tam long phân theo thứ tự Sơn long, Bình Cương long, Bình Dương long.
Trạch có 3 loại trạch phân biệt thành, thành thị trạch, hoang vu trạch và sơn trạch.
Quẻ thì phân thành tam nguyên, thiên nguyên, địa nguyên và nhân nguyên.
Bởi vì “Thiên khai vi Tý, Địa tịch vu Sữu, nhân kiến tại Dần, vì vậy khi ráp vào các quái ta thấy trong 3 sơn, Tý thuộc Thiên nguyên long, Sữu thuộc Địa nguyên long, Dần thuộc nhân nguyên long…
Địa có 3 kiếp là Thiên kiếp, Địa kiếp và nhân kiếp (theo thuyết tam tài)
Người viết: Minh Tuệ



Địa vận trong phong thủy huyền không phi tinh


Người có sinh lão bệnh tử, nhà cửa cũng thế cũng có hưng thịnh và suy bại, người có vận mệnh của người, đất có vận đất.
Khi chúng ta chọn mua nhà, chúng ta đều mong muốn có một nơi tốt để lại cho con cháu đời sau. Vì thế, khi chọn mua nhà cửa chúng ta không nên chỉ chú trọng phong thủy mà còn phải quan tâm đến vận của đất. Vậy làm sao biết được 1 vận dài bao nhiêu lâu ?
Trong phong thủy huyền không phi tinh mỗi cục cũng có vận, dài nhất là 160 năm, ngắn nhất 20 năm. Sự quyết định độ dài ngắn của địa vận do từng con sao phối với hướng tinh quyết định.
Trong 24 sơn hướng, mỗi một sơn hướng đều có sự đặc biệt khi phối sao và hướng tinh.


Ví dụ: Vận 1 tọa Tý hướng Ngọ, hướng tinh 5 nhập trung cung, tức ở trung cung hướng tinh là 5. Từ vận 1, vận 2, vận 3, vận 4 mỗi vận 20 năm, nên tổng cộng là 80 năm.
Như vận 8, tọa Tuất hướng Thìn, trung cung là 8, hướng tinh nhập trung cung là 7. Từ trung cung vận 8 đến tiếp vận 9, vận 1, vận 2, vận 3, vận 4, vận 5, vận 6 mỗi vận 20 năm, tổng cộng 160 năm. Tức, vận 8 nhà tọa Tuất hướng Thìn có địa vận 160 năm.
Khi xây nhà, xác định phương hướng lập hướng, bất kể vượng sơn vượng hướng hay thượng sơn hạ thủy, nó chỉ có tác dụng trong địa vận đó mà thôi. Hết địa vận này, hướng tinh lập tức nhập tù, nhà cửa ắt suy bại, mồ mã mất linh.
Nhập tù tức là số hướng tinh và số vận trung cung y như nhau, lúc này hướng tinh mất tác dụng. Ví như vận 1 tọa Tý hướng Ngọ, hướng tinh nhập trung cung là 5, đến vận 5, số 5 của vận sẽ nhập trung cung.

ĐỊA VẬN 24 SƠN HƯỚNG
Sơn Hướng
NGỌ
QUÝ
ĐINH
NHÂM
BÍNH
NGỌ
ĐINH
QUÝ
BÍNH
NHÂM
CÀN
TỐN
HỢI
KỸ
TUẤT
THÌN
TỐN
CÀN
TỴ
HỢI
THÌN
TUẤT
Số năm địa vận
80
80
80
100
100
100
160
160
160
20
20
20
Sơn Hướng
DẬU
MÃO
TÂN
ẤT
CANH
GIÁP
MÃO
DẬU
ẤT
TÂN
GIÁP
CANH
KHÔN
CẤN
THÂN
DẦN
MÙI
SỮU
CẤN
KHÔN
DẦN
THÂN
SỮU
MÙI
Số năm địa vận
140
140
140
40
40
40
60
60
60
120
120
120



Với xã hội bây giờ, nhịp sống nhanh hơn khi xưa, các cao ốc đua nhau mọc lên, sông suối càng ngày càng bị thu hẹp, đồng ruộng vàng ngày càng ít. Vì vậy, cục diện có thể thay đổi, những cục có địa vận hơn 100 năm nhưng có thể do sự biến đổi hình thế bên ngoài dẫn đến thời gian bị rút ngắn lại. Hoặc có những cục địa vận chỉ có 20 chục năm, nhưng do hình thế bên ngoài thay đổi tốt cho cục, vì thế mà có thể kéo dài hơn.
Hướng tinh nhập tù làm cho gia đình suy bại, hao đinh tổn tài, khó có thể cứu vãn được.


TIÊN THIÊN BÁT QUÁI


Thái cực Bát quái phân thành Tiên thiên Bát quái và Hậu thiên Bát quái. Tiên Thiên bát quái do Phục Hy sáng lập, phản ánh hình ảnh của vạn vật vạn tượng khi vũ trụ bắt đầu hình thành. Hậu thiên Bát quái là do Chu Văn Vương sáng lập, phản ánh trạng thái ban đầu của giới tự nhiên lên loài người.
Tiên thiên Bát quái ra đời ở thời kỳ đầu khi vạn vật trong vũ trụ hình thành, tượng trưng cho hiện tượng cơ bản trong quá trình hình thành của vũ trụ. Gồm có: Nam Càn, Bắc Khôn, Đông Ly, Tây Khảm, Đông Bắc Chấn, Tây Nam Tốn, Đông Nam Đoài, Tây Bắc Cấn.
Đặc điểm tương đồng với Hậu thiên bát quái:
Tiên thiên bát quái và hậu thiên bát quái đều chia thành 360 độ thành 8 phương: Đông, Nam, Tây, Bắc, Đông Nam, Đông Bắc, Tây Nam, Tây Bắc, quẻ vị mỗi phương chiếm 45 độ, đồng thời kết hợp với Bát quái Càn, Khôn, Chấn, Tốn, Khảm, Ly, Cấn, Đoài để biểu thị.

Thời cổ la bàn có 36 tầng, các tầng đều có huyền diệu, các chữ đều là chân kim. Do cái lẽ sâu xa uyên áo của Dịch, người mới học nếu không được một danh sư chỉ bảo thì khó hiểu rõ được. Sách này lấy la bàn Tam hợp có 19 tầng thường ngày hay sử dụng làm bản gốc, kết họp với kinh nghiệm ứng dụng của bản thân mình để tiến hành giải thích từng tầng. Hy vọng cung cấp cho người học tiện noi theo trí tuệ của tiên hiền đời trước.
 Trong Kinh dịch có viết rằng: Càn là trời dùng để coi sóc, trị vì muôn vật. Khôn là đất cất chứa muôn vật. Gió dùng để phân tán lưu thông, Mưa dùng để nhuần thấm muôn vật. Mặt trời dùng dể làm khô ráo muôn vật, cấn là núi án ngữ muôn vật. Đoài là đầm dùng để hân duyệt mọi vật, vận hành theo 4 mùa. sấm là quẻ Chấn, gió là quẻ Tốn, mưa là quẻ Khảm, mặt trời là quẻ Ly. Trong cùng của hình là Thiên trì. Mũi tên ở giữa là kim nam châm, ở tầng thứ hai, mặt trong là Tiên thiên Bát quái, tức quẻ Càn ở hướng Nam, quẻ Khôn ở hướng Bắc, quẻ Ly ở hướng Đông, quẻ Khảm ở hướng Tây, quẻ Đoài ở Đông Nam, quẻ Tốn ở Tây Nam, quẻ Chấn ở Đông Bắc, quẻ cấn ở Tây Bắc. Vòng ở ngoài cùng là 24 sơn hướng, lấy Tý ở Chính Bắc, Ngọ ở Chính Nam, Mão ở Chính Đông, Dậu ở Chính Tây, Càn ở Tây Bắc, Tốn ở Đông Nam, Khôn ở Tây Nam, cấn ở Đông Bắc. Ngoài ra, Bát quái, Tứ ngung, Tứ khố cũng đều quy vể các vị trí đó.
HẬU THIÊN BÁT QUÁI
Trên mặt của la bàn Tam hợp ngoài Thiên trì, đem Hậu thiên Bát quái đồ khắc ở vòng thứ nhất ở trước mặt Thiên trì. Điều đó cho thấy địa vị của Hậu thiên Bát quái quan trọng như thế nào trong la bàn.
Hậu thiên Bát quái theo tương truyền là do Chu Văn Vương vẽ ra dựa trên Hà đồ, Lạc thư cùng với hình thể phân bố của đất đai, sông núi, phối hợp với sự biến hóa khí hậu của 4 mùa. Cái lẽ ở đó bác đại tinh thâm, biến hóa vô cùng.
 Trong Thuyết quái truyện viết rằng, trời và đất vị trí định rồi, cái khí (khí lực) của núi và đầm thông với nhau, sấm gió đều nổi lên tiềm nhập, ứng họa với nhau, nước lửa dị tính nhưng chẳng diệt nhau, 8 quẻ cứ như vậy (vừa đối lập lại vừa thống nhất) mà đan xen vào nhau. (Nắm được quy luật vận động thống nhất đối lập này) muốn rõ mọi việc đã qua thì có thể thuận lí mà suy ngẫm, muốn hiểu mọi việc trong tương lai thì ngược lý mà suy đoán. Thiệu Tử viết rằng: Càn Nam, Khôn Bắc, Ly Đông, Khảm Tây, Chấn Đông Bắc, Đoài Đông Nam, Tốn Tây Nam, Cấn Tây Bắc, từ Chấn đến Càn là thuận, từ Tốn đến Khôn là nghịch. Triết lý của 64 quẻ hoàn toàn là bắt nguồn từ đó.
Hậu thiên Bát quái là căn cứ vào lý luận “đầu 9 đuôi 1, trái 3 phải 7, 2 với 4 là vai, 6 với 8 là chân” ở trong Lạc thư mà biến hóa ra. Cái lẽ đó biến hóa vô cùng, ví như như nói, 1 là Khảm Thuy, 2 là Khôn Thổ, 3 là Chấn Mộc, 4 là Tốn Mộc, 5 là Trung cung, 6 là Càn Kim, 7 là Đoài Kim, 8 là Cấn Thổ, 9 là Ly Hỏa. Trật tự Khảm, Khôn, Chấn, Tốn, Trung, Càn, Đoài, Cấn, Ly của Hậu thiên Bát quái chính là từ đó mà ra.
Trong Lịch pháp thông lãm với lịch pháp của các nhà đều có danh từ Cửu tinh Thất diệu. Đó là Nhất bạch, Nhị hắc, Tam bích, Tứ lục, Ngũ hoàng, Lục bạch, Thất xích, Bát bạch, Cửu tử. Những danh từ này chính là bắt nguồn từ Hậu thiên Bát quái.
Phương pháp thực dụng được khắc vẽ ở trên la bàn đều là từ Tiên thiên, Hậu thiên Bát quái. Nguồn gốc của những lý luận này người chuyên nghiệp cần phải nghiên cứu một cách tỉ mỉ kỹ càng, mới có thể hiểu được.
Nói đến nguồn gốc của 60 Giáp Tý: Lấy Tứ tượng, Thái dương ở 1 (Khảm), đối lập với 9 (Ly), lấy 4 X 9 = 36; lại lấy Thái âm ở 4 (Tốn), đối lập với 6 (Càn), lấy 4x6 = 24, đem 36 + 24 = 60. Đây chính là nguồn gốc của 60 Giáp Tý.
Lại như nguồn gốc của 60 Hoa giáp nạp âm. Thiếu dương ở 3, đôi lập với 7, lấy 7 x 4 = 28. Thiếu âm ở 2, đối lập với 8, lấy 4 X 8 = 32, lại lấy 28 + 32 = 60. Đây chính là nguồn gốc của 60 Hoa giáp nạp âm.
Hay như nguồn gốc của 120 phân kim: Lấy 60 Giáp Tý ở trước cộng với 60 Hoa giáp nạp âm bằng 120. Đây chính là nguồn gốc của 120 phân kim ở trên la bàn.
Lại muốn tìm hiểu về nguồn gốc của 24 sơn hướng: Trước tiên phải biết số chẵn lẻ âm dương. 1, 3, 5, 7, 9 là số lẻ thuộc dương, còn 2, 4, 6, 8, 10 là số chẵn thuộc âm. 4 quẻ Càn, Khôn, Khảm, Ly là thuộc dương; còn 4 quẻ Chấn, Tôn, Cấn, Đoài là thuộc âm. Hậu thiên Bát quái lấy số chẵn lẻ âm dương phối với nhau để được số 10. Ví dụ: Khảm 1 kết hợp với Ly 9 là bằng 10, cho nên Khảm sơn Ly hướng tức Tý sơn Ngọ hướng. Khôn 2 kết hợp với Cấn 8 là bằng 10, cho nên trở thành là Khôn sơn Cấn hướng, 3 kết hợp với 7 bằng 10, được Chấn sơn Đoài hướng, tức Mão sơn Dậu hướng. 4 kết hợp với 6 bằng 10, được Càn sơn Tốn hướng. Đây chính là Bát quái, âm dương, Hậu thiên phối hợp, đều diễn hóa từ Lạc thư.
Lại như nguồn gốc của 4 phương Đông, Tây, Nam, Bắc. Lấy Khảm 1, Càn 6, Cấn 8 cộng với nhau được 15, là thuộc phương Bắc. Tốn 4, Ly 9, Khôn 2 cộng với nhau được 15, là thuộc phương Nam. Chấn 3, Tốn 4, Cấn 8 cộng với nhau được 15, là thuộc phương Đông. Lấy Đoài 7, Khôn 2, Càn 6 cộng với nhau được 15, là phương Tây. Lây 15 nhân với 4 phương hướng là bằng 60. Đây chính là nguồn gốc của 60 long ở trên la bàn.
Trung ương Tứ chính, Tứ ngung cộng vào được 60, lại cộng với 60 ở trước mặt là được 120 phân kim. Dù bạn tính toán như thế nào, chiều ngang hay chiều dọc ở trong hình cộng 16 hay 15 thì tổng cộng đều là 240. Mỗi sơn đều là 10, ứng với tác dụng vượng tướng, cô hư, không vong của 24 sơn.
Về căn nguyên hợp hóa, theo lý số của Hà đồ, Lạc thư, Giáp phối hợp với Kỷ Ất phối hợp Canh, Bính hợp với Tân, Đinh với Nhâm, đều là bắt nguồn từ Hà đồ và Lạc thư. Trong Hà đồ có 1 với 6 cùng tông, 2 với 7 đồng đạo, 3 với 8 là bạn, 4 với 9 là bạn, đều là bắt nguồn từ số 50 của Hà đồ và Lạc thư. Ví dụ: Giáp hợp với Kỷ, Giáp Kỷ còn thêm Giáp. Từ số 5 ở phía trước Giáp Tý được Mậu Thìn hóa Thổ- “Ất Canh, Bính làm đầu tiên”: Ât vối Canh khởi đến vị trí số 5 ở phía trước Bính Tý được Canh Thìn hóa Kim; “Bính Tân sinh Mậu Tý”: Từ vị trí số 5 ở phía trước Mậu Tý được Nhâm Thìn hóa Mộc. “Mậu Quý khởi Nhâm Tý”: Từ hướng trước Nhâm Tý suy ra vị trí sô 5 gặp Bính Thìn. Cho nên, Bính Thìn hóa Hỏa. Cái lý của Ngũ Tý nguyên độn đều bắt nguồn từ lý số của Hà đồ, Lạc thư. Về thuyết Ngủ hổ độn, cũng suy giống như thế, Giáp Tý đến Dần là Bính Hỏa, Bính đến Thìn là Mậu Thìn. 8 Thiên can còn lại cũng dựa theo đó mà suy.
Về số Thiên can tương hợp đều là bắt nguồn từ số 5 của Lạc thư. Như 1 + 5 = 6, như Giáp hợp với Kỷ, Giáp chính là số 1, Kỷ là số 6, hình thành 1 với 6 cùng tông. Ất hợp với Canh, Ất là thuộc số 2, mà 2 + 5 = 7, cho nên 2 với 7 đồng đạo. Bính hợp với Tân, Bính là thuộc số 3, mà 3 + 5 = 8, cho nên 3 với 8 là bạn. Đinh hợp với Nhâm. Đinh là thuộc số 4, mà 4 + 5 = 9, cho nên 4 với 9 là bạn. Mậu hợp với Quý, Mậu thuộc số 5, mà 5 + 5 = 10. Cho nên, Mậu và Quý là hợp thập.
Trong Hà đồ, số 1 với số 6 thuộc Thủy, 2 với 7 thuộc Hỏa, 3 với 8 thuộc Mộc, 4 3 với 9 thuộc Kim, 5 với 10 thuộc Thổ. Lại viết rằng: Trời 1 thì đất 2, trời 3 thì đất 4, trời 5 thì đất 6, trời 7 thì đất 8, trời 8 thì đất 9. Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm là 5 Thiên can dương, còn Ất, Tân, Kỷ, Đinh, Quý là 5 Thiên can âm.
Trong số đại diễn, thiên số là 25, địa số là 25, cộng thêm bản thân số 5 được số 55. Trong đó huyền diệu vô cùng.
Từ việc phân tích ý nghĩa cổ văn trong Kinh dịch, chúng ta có thể hiêu rõ được mối quan hệ liên kết giữa Tiên thiên Bát quái và Hậu thiên Bát quái, đồng thời còn từ đó có thể nhìn ra được phương vị mà mỗi quẻ đại biểu. Người xưa đem vị trí cụ thể của Tiên thiên, Hậu thiên Bát quái soạn ra ca quyết để dễ ghi nhớ, tiện cho mọi người hiểu rõ về vị trí của Tiên thiên, Hậu thiên Bát quái.
Ca quyết:
Càn lục Ly cửu thị triều tông, Khôn cung Khảm quái khí tương thông.
Thiên tam địa bát vi bằng hữu, Đoài thất Tốn tứ nhất mạch dung.
Ly cửu lai long định chấn huyệt, thị nhân địa bát thị Càn cung.
Khảm thủy triều thời lai đáo Đoài, Tốn long nhập mạch Khôn cung tòng
Hậu thiên lai long tiên thiên hướng, sinh thành suy chiếu tương hổ đồng.
Thùy nhân thức đắc thử chân quyết, hà sầu thiên địa bất tương phùng.
Từ khi Phục Hy vạch quẻ đến nay đã có lịch sử hơn 5000 năm. Các bậc tiên hiền của các thời đại đã bỏ ra bao nhiêu tiền bạc và tinh lực để tìm tòi nguyên nhân hình vẽ quẻ, quan sát sự biến hóa trong đó, kết quả đều vẫn chưa thể tìm ra câu trả lời. Đến ngày nay, giới học thuật tiếp tục lại lấy một số vấn đề ở bên trên để tiến hành nghiên cứu một cách hệ thống. Nhưng vì những học thuyết này với khoa học hiện đại có chỗ khác nhau. Khoa học hiện đại, như: Vật lý, hóa học đều có thế dùng trực quan để phân biệt rõ ràng, còn học thuyết Âm dương Ngũ hành chỉ có thể từ nguyên lý sinh khắc chế hóa của âm dương Ngũ hành để truy tìm cái lý của nó, không có cách nào dùng khoa học để chứng minh được. Bởi vậy, chúng ta chỉ có thể gọi nó là “Huyền học’’ hay “Văn hóa thần bí”
Trong số rất nhiều học thuyết văn hóa thần bí, tác phẩm văn hiến có học thuật quyển uy nhất đó chính là Kinh dịch. Đây là một trong những bộ kinh điển xuất hiện sớm nhất trong văn hóa dân tộc Trung Hoa. Tác giả của cuốn sách này không phải chỉ là một người. Trong kinh sách xưa có viết rằng “Dịch đạo yên bác sâu xa, qua Tam thánh, trải qua Tam cổ”. “Tam thánh” và “Tam cổ” chỉ là hoàng đế Phục Hy ở thời kỳ viễn cổ, Chu Văn Vương ở thời kỳ trung cổ, Khổng Tử ở thời kỳ cận cổ.
Kinh dịch là điển tịch chuyên nghiên cứu về sự biến hóa của sự vật, được coi là nguồn gốc của đại đạo. Vì sao gọi là “dịch”, chính là “biến”. Chúng ta nhìn hình chữ Dịch sẽ thấy trên mặt là bộ Nhật, bên dưới là bộ Nguyệt, do 2 bộ Nhật, Nguyệt hợp thành. Nhật Nguyệt chính là chỉ sự biến hóa của âm dương. Còn chữ Kinh là chính Đạo, đạo là lý, 2 chữ Kinh Dịch gồm 3 ý nghĩa “dịch”, “bất dịch”, “giản dịch”. Tấc cả mọi vật trong vũ trụ đều biến đổi, dù biến đổi như thế nào cũng đều không thoát khỏi 3 ý nghĩa của “dịch”, “biến dịch”, “giản dịch” này. Triết lý của âm dương Ngũ hành cũng đều bắt nguồn ở đó.


TIÊN THIÊN BÁT QUÁI

Bát quái có phân thành Tiên thiên Bát quái và Hậu thiên Bát quái. Dựa theo truyền thuyết, Tiên thiên Bát quái do hoàng đế Phục Hy sáng tạo ra. Đến nhà Chu, Chu Văn Vương dựa trên cơ sơ của Tiên thiên Bát quái lại sáng tạo ra Hậu thiên Bát quái. Việc sáng tạo Tiên thiên và Hậu thiên Bát quái là nền tảng vững chắc để nghiên cứu Dịch học. Bắt đầu từ nhà Chu, Trung Quốc xuất hiện phân chia thị tộc. Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc, để củng cố địa vị thống trị của mình, ông đã thiêu hủy hết thảy thư tịch văn hóa của bách gia. Trong số sách bị đốt, chỉ giữ lại thư tịch về y học, bốc, tinh tượng, trồng cây. Trong đó cũng bao gồm Kinh dịch mà chúng ta vừa mới nói tối.
Kinh dịch có thể vượt qua hạn vận đó, chủ yếu là vì thuộc loại sách chiêm bốc. Khi muốn biết trước được sự việc, người cổ đại phải tiến hành chiêm bốc, muốn biết họa phúc cần phải hỏi trời. Phương pháp hỏi trờii là đốt mai rùa. Sau đó dựa vào vết nứt dùng quẻ tượng của Kinh dịch để phân biệt cát hung, thành bại của sự tình.
Hình Bát quái Phục Hy được ghi chép ở trong Kinh dịch, tượng trưng 8 loại hiện tượng tự nhiên ở trong vũ trụ đó là:
Quẻ “Càn”, quẻ tượng “Càn tam liên” (3 vạch liền) tượng trưng trời.
Quẻ “Khôn”, quẻ tượng “Khôn lục đoạn” (6 vạch đứt), tượng trưng đất.
Phù hiệu của hai quẻ Càn và Khôn vốn tượng trưng cho cơ quan sinh dục của nam giới và nữ giới, cũng là hình tượng cơ bản của giống cái và giống đực. Từ trong những phù hiệu Bát quái này có thể thấy được hình tượng của trời và đất, hình tượng ban ngày và ban đêm, hình tượng của mặt trời và mặt trăng, hình tượng của âm và dương.
Quẻ “Ly”, quẻ tượng “Ly trung hư” (rỗng giữa), tượng trưng lửa (Thái dương).
Quẻ “Khảm”, quẻ tượng “Khảm trung mãn” (đầy giữa), tượng trưng nước (Thái âm).
Quẻ “Chấn”, quẻ tượng là “Chấn ngưỡng bồn” (bát ngửa), tượng trưng sấm.
Quẻ “Tốn”, quẻ tượng là “Tốn hạ đoạn” (đứt dưới), tượng trưng gió.
Quẻ “Cấn”, quẻ tượng là “Cấn phúc uyển” (bát úp), tượng trưng núi.
Quẻ “Đoài”, quẻ tượng là “Đoài thượng khuyết” (Đoài khuyết trên), tượng trung biển lớn, sông ngòi.
Những phù hiệu Bát quái này đủ để tượng trưng cho 8 loại hiện tượng tự nhiên lớn trong vũ trụ, phân biệt thành trời, đất, nước, lửa, đầm, gió, sấm. 8 quẻ tượng này biến hóa thành 64 quẻ tượng, 64 quẻ chính là phát triển từ đó mà thành.
Tứ chính, Tứ ngung không chỉ là đại diện tám phương của trời đất, còn đại diện cho yếu tố cấu thành thiên địa vạn vật, dùng hình thái quẻ tượng để thể hiện, tức là Bát quái.



Tiên thiên Bát quái diễn biến ra 64 quẻ,  gọi là 64 quẻ Văn vương nay là hậu thiên Bát quái. Trong ứng dụng hàng ngày, lấy Tiên thiên Bát quái làm thể, làm nguồn gốc, làm lý, còn Văn Vương Bát quái là dụng, là trí.
Trí tuệ vĩ đại được hình thành từ Kinh dịch, Hà đồ, Lạc thư đã trở thành tinh tuý văn hóa truyền thông của dân tộc Trung hoa. Từ đó, văn hóa Dịch học đã đạt cơ sở vững chắc.
Trong Kinh dịch đại truyện có viết rằng: “Trời đất xuất hiện sự biến đổi của 4 mùa thì thánh nhân phỏng theo (mà chế ra các điều lệnh thưởng phạt). Trời rủ treo các biểu tượng nhật, nguyệt, tinh tú, hiện rõ các điềm cát hung, thánh nhân phỏng theo (làm ra các khí cụ thiên văn). Sông Hoàng Hà xuất hiện Long đồ, sông Lạc Thủy xuất hiện Qui thư, thánh nhân bắt chước soạn chế ra Bát quái, cửu trù”. Mấy câu này chính là Khổng Tử tán dương thánh nhân, dựa vào đó làm lý do căn bản để nghiên cứu Kinh dịch. Người xưa đem Long mã ví với thần vật, về sau dùng phương pháp bói mai rùa, suy đoán sự biến hóa của trời đất và vạn vật. Vận hành của 4 mùa, trời rủ xuống các hiện tượng cát hung, gọi là quy luật vận hành của Nhật Nguyệt. Hoàng Hà xuất hiện Long đồ, Lạc Thủy xuất hiện Quy thư gọi là số của trời đất vậy.
Tiên thiên Bát quái được gọi là Phục Hy Bát quái. Tương truyền vào thòi kỳ viễn cô, Phục Hy ngẩng lên quan sát thiên văn, cúi xuống xem xét địa lý, nghiên cứu hình thái sinh trương của động thực vật. Từ đó, chuyên tâm đúc kết mà tìm ra Bát quái.
Trong Hệ từ truyện của Kinh dịch viết rằng, Dịch có Thái cực, sinh Lưõng nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng sinh Bát quái, Bát quái sinh vạn vật. Lưõng nghi phân làm âm nghi và dương nghi. Dương nghi sinh Thái dương, Thiếu âm. âm nghi sinh Thái âm, Thiếu dương. Cho nên đem Thái dương, Thiếu dương, Thái âm, Thiếu âm gọi chung là Tứ tượng. Thái dương sinh Càn 1, Đoài 2; Thiếu dương sinh Ly 3, Chấn 4; Thiếu âm sinh Tốn 5, Khảm 6, từ trong Thái âm sinh Cấn 7, Khôn 8. Đây chính là thuyết “Thái cực sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng sinh Bát quái, Bát quái định cát hung, cát hung sinh đại nghiệp” mà người xưa đã nói.
Vạch quẻ, hào tượng của Bát quái tức Càn tam liên, Khôn lục đoạn, Chấn ngưỡng bồn, Cấn phúc uyển, Ly trung hư, Khảm trung mãn, Đoài thượng khuyết, Tốn hạ đoạn.
Bát quái tượng trưng 8 hiện tượng lớn của giới tự nhiên. Càn tượng trưng trời, Khôn tượng trưng cho đất, Chấn tượng trưng cho sấm, Cấn tượng trưng cho núi, Ly tượng trưng cho lửa, Khảm tượng trưng nước, Đoài tượng trưng đầm, Tốn tượng trưng gió.
Mỗi một quẻ trong Bát quái đều có thuộc tính Ngũ hành, Càn, Đoài thuộc Kim; Cấn, Khôn thuộc Thổ; Ly thuộc Hỏa; Khảm thuộc Thủy; Chấn, Tốn thuộc Mộc.

Bát quái phân chia thành hai loại là Tiên thiên Bát quái và Hậu thiên Bát quái, Tiên thiên Bát quái và Hậu thiên Bát quái tương trợ cho nhau, là tiêu chí đầy đủ để cổ nhân giải thích về tạo hóa của trời đất.

 8 phương vị của Tiên thiên Bát quái: Càn thuộc hướng Nam, Khôn thuộc hướng Bắc, Ly thuộc hướng Đông, Khảm thuộc hướng Tây, Chấn thuộc hướng Đông Bắc, Cấn thuộc hướng Tây Bắc, Đoài thuộc hướng Đông Nam, Tốn thuộc hướng Tây Nam.
Trong Kinh dịch có viết rằng: “Trời và đất vị trí định rồi, cái khí (khí lực) của núi và đầm thông với nhau, sấm gió đều nổi lên tiêm nhập, ứng họa với nhau, nước lửa dị tính nhưng chẵng diệt nhau”.
Tiên thiên Bát quái có phần thuận nghịch, chuyển trái là thuận, từ Chấn đến Càn, suy nghĩ về mọi việc đã qua là thuận; chuyển phải từ Khôn đến Tốn, suy đoán về mọi việc trong tương lai là nghịch. Cho nên mói nói rằng: “Muốn rõ mọi việc đã qua thì có thể thuận lí mà suy ngẫm, còn muốn biết mọi việc trong tương lai thì ngược lý mà suy đoán”.
Quái vị của Bát quái dựa vào sự tiêu trưởng của âm dương. Trong đó, lý của tự nhiên áo diệu vô cùng. Bát quái lấy dương sinh ở Tý, cực ở Ngọ. Cho nên, lấy chính Nam là Càn. Càn là chính dương, dương cực sinh 1 âm. Lấy Tây Nam là Tốn, Tốn chính là bắt đầu của 1 âm. Âm sinh sẽ có khí thịnh, khí thịnh sẽ bao bọc dương. Cho nên, Chính Tây là Khảm. Khảm là 1 dương ở bên trong, được âm thịnh bao bọc. Âm thịnh khiến dương khí dần dần giảm. Lúc đó là quả của mùa thu đã chín có thể ăn được. Cho nên lấy Tây Bắc là Cấn, Cấn chính là mức độ thịnh của 2 âm, 1 dương dần dần tiêu trừ.
Âm sinh ở Ngọ, cực ở Tý. Vì vậy, Chính Bắc là Khôn. Khôn là cực của chính âm. Âm cực là một dương sinh. Cho nên Đông Bắc là Chấn. Chấn chính là bắt đầu một dương sinh. Dương sinh có khí thịnh mà bao bọc âm. Cho nên lấy Chính Đông là Ly. Ly là một âm ẩn chứa ở trong một dương, cũng chính là một âm ẩn chứa ở trong dương thịnh. Dương sinh khiến âm dần dần tiêu trừ, cho nên Đông Nam là Đoài. Đông Nam là vị trí Đoài, không phải là mức độ thịnh của 2 dương, là âm thịnh dần dần tiêu giảm.
Tổng kết hào tượng của âm dương Bát quái ở trên sẽ thấy, chính vị của hai quẻ Càn và Khôn là ỏ Chính Nam, Chính Bắc, có thể suy đoán lý tiêu trưởng của âm dương, đều là bắt nguồn từ hiện tượng của tự nhiên. Chính vị của hai quẻ Khảm, Ly ỏ Chính Tây, Chính Đông, có thể dùng để suy đoán nhật nguyệt, sóc vọng, từ lúc trăng khuyết đến khi tròn. Đó là lúc âm bị tiêu giảm, dương được tàng trưởng, từ dưới mà dần dần vươn lên. Cho nên, quẻ của vòng trái có Chấn 1 dương, Đoài 2 dương, Càn 3 dương. Quẻ tượng này được tượng trưng bằng 3 quẻ khá rõ ràng. Lại từ khi trăng thượng huyền đến khi tối là tin tức âm tiêu giảm trong dương. Vì vậy, quẻ của vòng phải là Tốn 1 âm, Cấn 2 âm, Khôn 3 âm. Dùng ba quẻ này biểu thị rất chuẩn xác. Cho nên, nguyên lý “âm minh dương hối” đều được lập luận từ việc mặt trăng mượn ánh sáng của mặt trời.
Cuối thời nhà Thương, Văn Vương lại dựa trêm cơ sở của Tiên Thiên bát quái diễn hóa thành Hậu thiên bát quái, đem trật tự của Tiên Thiên bát quái là Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng diễn thành: Càn thuần dương là cha sinh ra Chấn là trưởng nam, Khảm là trung nam, Cấn là thiếu nam, Khôn thuần âm là người mẹ, sinh ra Tốn là trưởng nữ, Ly là trung nữ, Đoài là thiếu nữ.
Lấy Càn thuần dương là người cha, số lẻ là dương, số chẵn là âm. Chấn là trưởng nam, Khảm là trung nam, Cấn là thiếu nam đều là 2 chẵn, 1 lẻ, cho nên đều là quẻ dương. 3 quẻ đó đều căn cứ vào quẻ Càn là cha, số dương theo loại 3 dương, lấy 1 lẻ là dương, 2 chẵn dựa theo đó. Cho nên, trong Kinh dich viết rằng: 1 vua 2 dân là đạo của bậc quân tử. Lấy 3 số chẵn của quẻ Khôn là âm, còn 3 quẻ Tốn, Ly, Đoài đều có 2 lẻ, 1 chẵn là âm. 3 quẻ này đều lấy khí của Khôn, số âm theo loại âm, lấy 1 chẵn làm chủ, 2 lẻ cũng dựa theo đó.
Kinh dịch viết: “Nguồn nguyên khí trong mình vị chúa tể thiên nhiên khiến cho muôn vật được sinh ra từ Chấn (tượng trưng cho hướng Đông và tiết Xuân phân), được sinh trưởng đều đặn ở Tốn (tượng trưng cho hướng Đông Nam và tiết Lập hạ), được đua chen nảy nở ở Ly (tượng trưng cho hướng Nam và tiết Hạ chí), mặc sức dụng sự ở Khôn (tượng chưng cho hướng Tây Nam và tiết Lập thu), thành thục phơi phới ở Đoài (tượng trưng cho hướng Tây và tiết Thu phân), giao phối kết hợp ở Càn (tượng trưng cho hướng Tây Bắc và tiết Đông chí), cuối cùng công thành nên việc rồi lại nảy nở ở Cấn (tượng trưng cho hướng Đông Bắc và tiết Lập xuân). Chúng ta cẩn thân để phân tích thử xem, cái lẽ của Hậu thiên quái vị có đều bắt nguồn từ đây hay không?
Quẻ có pha tạp cả âm và dương. Cho dù một quẻ như thế nào, cũng cần phải có cung vị phù hợp với nó, không thể khiên cưỡng được. Khi tiến hành lập quẻ, người xưa trước tiên lấy hai cực trời và đất làm chủ, lấy cực Bắc của trời ở Hợi. Quẻ Càn là thiên tượng thuần dương ỏ phía Tây Bắc, nên là trời. Cực Nam của đất ở Thân Quẻ Khôn là địa tượng thuần âm ở phía Tây Nam. Điều này là mấu chốt chủ yết của Tiên thiên, Hậu thiên Bát quái. 2 quẻ Càn, Khôn là thủy tổ của âm dương, là cha mẹ của các quẻ. Cho nên, Văn Vương đem 2 quẻ này đặt ở cực Nam và cực Bắc là hợp tình, hợp lý.
Khảm là trung nam, Ly là trung nữ, đồng thời không phải là lấy trưởng nam thay thế cho cha, trưởng nữ thay thế cho mẹ. 2 quẻ Khảm, Ly tượng trưng Càn, Khôn của Tiên thiên. Bát quái phân âm dương, lập ra 8 phương, chứ không phải là 3 chí khí của âm dương trung chính. Bạn suy xét kỹ hơn một chút, quẻ Ly tọa ở vị trí Càn của Tiên thiên. Quẻ tượng đó có 1 âm ở trong Khôn mà giữa rỗng. Quẻ Khảm tọa ở vị trí Khôn của Tiên thiên, được 1 dương của quẻ Càn mà giữa đầy. 2 quẻ đều được chính khí của âm dương, khác với âm dương của những quẻ khác.
Quẻ Ly ở hướng Nam, quẻ Khảm ở hướng Bắc. Văn Vương vẽ quẻ, đem 2 quẻ “Khảm, Ly định vị ở Nam Bắc là có ý nghĩa sâu xa, chứ không phải là ngẫu nhiên. 2 quẻ này tọa ở 2 vị trí quẻ Càn và Khôn, lấy hào vị của tiên thiên. Cho nên quẻ Khảm, Ly của Tiên Thiên ở phía Đông và Tây. Khảm Ly của Hậu thiên ở phía Nam Bắc, Khảm, Ly của Tiên thiên, Hậu thiên Bát quái đều phân thành Đông, Tây, Nam, Bắc.
Quẻ Chấn tượng trưng trưởng nam. Do quẻ Chấn được khí của quẻ Ly ở Tiên thiên, có 1 dương bắt đầu sinh. Chấn là vị trí đầu của 6 người con. Vị trí của nó chính là đứng đầu 5 phương. Cho nên, thời lệnh sinh của nó đứng đầu 4 mùa. Vị trí của Tốn tọa ở phía sau Chân, ở hướng Đông Nam, cũng từ đó mà ra. Trưởng nữ theo đằng sau trưởng nam, Mộc âm trợ giúp Mộc dương, hỗ trợ hài hòa, khiến âm dương tương hỗ. Đây chính là triết lý của trời đất vậy.
Đoài là thiếu nữ, Ngũ hành thuộc Kim. Tính chất của Kim là cứng rắn, dựa vào bản thân không thể tự sinh, tự vượng. Đoài tọa ở Chính Tây, dựa vào bên trái có Càn Kim (cha) trợ giúp, bên phải Khôn Thổ (mẹ) sinh trợ. Đúng là tương trợ tương thành, cũng là cái lẽ của tự nhiên vậy.
Cấn là thiếu nam, Ngũ hành thuộc Thổ. Cấn chính là khí ở trong đất, nhưng sự nhu nhược của Cấn dương và Đoài âm là giống nhau. Chúng chỉ có thể dựa vào người khác để thành sự, cho nên lấy Cấn tọa ở hướng Đông Bắc, khiến cho Khảm Thủy thấm nhuần vạn vật làm gốc rễ sinh sôi, khiến cho Chấn Mộc bồi dưỡng vạn vật có thể thư nhận khí Thổ, Cho nên, Cấn Thổ tọa ở hướng Đông Bắc. Thiếu nam phụ ở bên cạnh trưởng nam, có thể giúp sức cho trưởng nam thành công sớm hơn.
Triết lý của Văn Vương Bát quái sâu xa, tuy nhiên Hậu thiên thực ra là bản thể của Tiên thiên. Lý của nó không nằm ngoài Hà đồ và Lạc thư, Bởi vì, mỗi quẻ quản 3 sơn, 8 quẻ hợp thành 24 sơn, cũng chính là 24 phương vị. Tại sao dùng Hậu thiên mà không dùng Tiên thiên, là vì Hậu thiên bao gồm cả nội dung Tiên thiên.
Từ lý luận của Bát quái sẽ thấy, Càn, Khôn của Tiên thiên sinh 6 người con. Càn, Khôn là Thái âm, Thái dương. Vợ chồng tương phối ấy là cái lẽ tự nhiên, phải biết Tiên thiên Bát quái giống như thể xác của con người, còn Hậu thiên Bát quái giống như tinh thần của con người. Khi tinh thần thịnh vượng, con người có thể khỏe mạnh. Ngược lại, tinh thần khô kiệt, con người không thể sinh tồn. 2 điều này phối hợp lẫn nhau, tương trợ tương thành. Sự huyền diệu ỏ trong đó, biến hóa vô cùng. Đó chính là gốc rễ biến hóa của âm dương mà muôn đời không dễ thay đổi.
Nói chung, Tiên thiên là thể, Hậu thiên là dụng. Tiên thiên, Hậu thiên Bát quái cần phải cùng luận, mới có thể biết được sự huyền diệu. Bát quái lấy 9 vạch ứng với cung vị, như: “Thiên địa định vị”, chính là quẻ Càn vẽ 3 vạch, quẻ Khôn vẽ 6 vạch, cộng vào là được 9 vạch, gọi là “Thủy Hỏa bất tương xạ”; quẻ Khảm vẽ 5 vạch, quẻ Ly vẻ 4 vạch, cộng vào được 9 vạch, gọi là “Lôi phong tương bạc”; quẻ Chấn vẽ 5 vạch, quẻ Tốn vẽ 4 vạch, cộng vào được 9 vạch; quẻ Cấn vẽ 5 vạch, quẻ Đoài vẽ 4 vạch, cộng vào được 9 vạch, gọi là “Sơn trạch thông khí”; 4x9 =36 vạch, ứng với 36 cung cho nên thơ xưa có viết rằng:
Càn ngộ Tốn thời vi nguyệt quật, Khôn phùng Tốn địa hiện thiên căn.
Thiên căn nguyệt quật gian lai vãng, tam thập lục cung đô thị xuân