Các bài viết về "14 chính tinh"
Hiển thị các bài đăng có nhãn 14 chính tinh. Hiển thị tất cả bài đăng


1.        Đặc tính của sao Âm Sát
Sao Âm Sát ngũ hành thuộc thuần âm Thổ.
Chủ về sự ám phục hãm hại.
Làm cho người ta có nhiều ngờ vực vô căn cứ, ghen ghét, thị phi.
Âm Sát là sao ám tinh rất nặng, đại biểu cho thế giới vô hình, xưng là quỷ thần, dễ có sự quấy nhiễu của phần âm, cũng dễ có thông linh. Cũng có thể là bị bạn bè chơi xấu sau lưng, tiểu nhân hãm hại, thù hận, lừa gạt, tâm thuật bất chính, những sự việc kỳ quái, sự không minh bạch, gian mưu, ám hại, lừa gạt, tại họa ngầm, âm gian địa phủ.
Âm Sát nghiệp lực rất mạnh, nó rơi vào cung nào thì cung ấy dễ xảy ra chuyện, lưu niên hạn đến ắt gặp hung.
Nhưng tính nguy hại của nó nhất định phải đi cùng với sát tinh mới có tác dụng, nếu không chỉ là khuôn mặt u ám mà thôi.
Âm Sát nhập cung mệnh, Mệnh chủ, tính cách âm trầm hay thay đổi, mẫn cảm đa nghi, hay suy nghĩ lung tung, nghi thần nghi quỷ, cảm xúc thường hay thay đổi bất ngờ, trẻ con thì thường hay kinh sợ, thường bị tiểu nhân hãm hại hoặc thị phi. Bởi vì, có “hoạt quỷ” xung quanh mình (“hoạt quỷ” có thể là ma quỷ, chuyện ma quỷ, những chuyện kỳ lạ mà không thể giải thích được)

1.        Sao Âm Sát cùng với các sao khác.
Sao Âm Sát có tính chất nguy hại, tất cần phải có sát tinh thì mới phát huy được tác dụng, chủ yếu là làm cho khuôn mặt có tính âm u.
Như Kình Dương chủ cạnh tranh, cùng Âm Sát đồng cung trở thành âm thầm đả kích .
Đà La chủ trở ngại, cùng Âm Sát đồng cung trở thành âm thầm kéo dài.
Âm Sát cùng Linh tinh đồng cung dễ bị tổn hại, ảnh hưởng bởi môi trường bên ngoài.
Gặp Không Kiếp Thiên Không đồng cung có thể ảnh hưởng nhiều bởi âm khí.
Âm Sát mặc dù bản thân không chủ về bệnh tật, nhưng khi Âm Sát đồng cung với 1 sao nào đó mang tính chất bệnh tật, nó sẽ tăng tính bệnh tật của sao đó lên, có thể là nguy chứng thậm chí là bệnh nan y.
Âm Sát có tính âm rất nặng, cùng Cự Môn, Thái Âm, hóa Kỵ, Liêm Trinh càng làm cho tính âm càng nặng.
Thiên phủ không nên gặp Âm Sát, gặp Âm Sát dễ dàng có tâm ý hại người, lòng dạ gian trá, nham hiểm.
Âm Sát có lục cát hội họp thì tính hung của Âm Sát giảm đi rất nhiều.
Âm Sát hội tả phù hữu bật là người tích cực hăng hái, hội văn xương văn khúc hoặc Khôi Việt là người dễ kết bạn với những người có tam giáo, cửu lưu chi sĩ (Tam giáo gồm “Nho” , “Đạo”  và “Phật” , cửu lưu gồm Nho gia , Đạo gia , Âm dương gia , Pháp gia , Danh gia , Mặc gia , Tung hoành gia , Tạp gia  và Nông gia .)


Sao Phi Liêm




-         Ngũ hành thuộc Bính Hỏa, Dương Hỏa.
-         Chủ cô khắc
-         Kỵ nhập Thân Mệnh, Phụ mẫu, Thiên Di
Gặp được cát tinh thì tính hung của Phi Liêm được hóa giải, kỵ gặp thêm hung sát tinh.
Sao Phi Liêm chủ về hình cô, khắc hại. Hình tượng lớn nhất của nó chính là ly tán, cô độc, đào hoa, khẩu thiệt.
Nhập cung Thân Mệnh là người cố chấp, tính cách hơi quái gở.
Nhập cung Phụ mẫu thì khắc bố mẹ, hội thêm hung sát tinh càng làm thêm khắc.
Nhập cung Thiên Di nên hạn chế di chuyển xa, gặp hung sát tinh càng đề phòng tai nạn giao thông khi đi ra ngoài.
Phi Liêm có bản tính cương trực, có lúc rất nhiệt tình nhưng lại bảo thủ. Cho nên nói về mối quan hệ bên ngoài thì Phi Liêm là 1 con sao khá bất lợi cho việc giao tế. Bản thân Phi Liêm đã mang tính khẩu thiệt thị phi lại còn bảo thủ, quan hệ xã hội không tốt nên dễ bị xã hội xa lánh.
Ưu điểm:
Là người thiện lương, tuân thủ theo quy định, nhiệt tình nhưng hay suy bụng ta ra bụng người. Đi theo chính đạo thà chết chứ không chùn bước, không dễ từ bỏ ý định của mình.
Nhược điểm:
Ngoan cố, bảo thủ mà không biết tùy cơ ứng biến, tư tưởng cực đoan. Quá tự tin vào chính mình, nghĩ và làm việc quá cao siêu làm cho người khác không hiểu mình muốn gì. Làm việc bảo thủ dễ bị người khác xa lánh.


SAO ÂN QUANG 恩光星


Ân : ân huệ, ơn đức
Quang : sáng
Ngũ hành thuộc Bính Hỏa, Dương Hỏa.
Chủ ân sủng, quý nhân phù trợ.
Rất tốt khi ở Mệnh, Quan lộc, có lợi cho thi cử, thanh minh, là sao phụ tá của sao Thiên Khôi, tính tình cẩn thận, quang minh lỗi lạc.
Ân quan tọa Thân Mệnh, đặc tính lớn nhất là sự cẩn thận, cho nên làm việc gì cũng cẩn thận. Mà tính cách lạc quan rộng rải, lại hiếu học, ưa bố thí. Có thể làm cho gia đình nở mày nở mặt.
Nó là 1 sao rất được người khác yêu mếm thích người khác được nuông chiều, mặt đù thế sao ân quang là sao rất biết ơn và đền đáp lại tình cảm của người khác.
·     Ân quang gia hội tả phụ, hữu bật, đa tài nghệ, hữu năng lực, dịch hữu thụ cao giai nhân sĩ hân thưởng.
·     Ân quang gia hội Văn xương, Văn khúc, văn thải giai, dịch hữu danh thanh.
·     Ân quang gia hội Thiên khôi, Thiên việt, cơ vận đa, thụ nhân lễ ngộ.
·     Ân quang gia hội Lộc, Quyền, Khoa, đắc tài, nhân duyên giai, dịch thụ nhân trọng dụng.
·     Ân quang gia hội Hỏa tinh hoặc Linh tinh, tố sự phách lực bất túc, tác phong nhuyễn nhược.
·     Ân quang gia hội Kình dương, Đà la, tố sự phách lực bất túc, tác phong nhuyễn nhược.
·     Ân quang gia hội Hỏa tinh, Linh tinh, Kình dương, Đà la, Địa không, Địa kiếp, tố sự phách lực bất túc, tác phong nhuyễn nhược.
·     Đại tiểu hạn ngộ Ân quang gia hội cát tinh danh thanh giai.
Ưu điểm:
Quang minh lỗi lạc, không thẹn với lương tâm, có chí tiến thủ, năng lực giác ngộ cao, khả năng học tập tốt, lạc quan rộng rãi, bình dị dễ gần gũi.
Khuyết điểm:
Nhân từ dễ nương tay, dễ tha thứ.

Người viết: Minh Tuệ -Tiểu Trúc

Sao Cô thần - tính chất và ý nghĩa

Sao cô thần 孤辰星
Ngũ hành thuộc Bính Hỏa, Dương Hỏa
Chủ: cô
Kỵ nhập cung Phu thê, Phụ mẫu.
Sao cô thần - sao quả tú

Nhập Mệnh là dương cô, gặp sát tinh chủ phá tướng, bệnh tật. Mệnh không có cát tinh gặp cô thần dễ chia ly hoặc góa.
Cô thần gặp sao Thiên cơ, thiên lương, vũ khúc, thiên tướng, thì tính cách cô độc quái lạ, lánh xa nhân thế, càng không thích hợp ở người nam.
Cô thần tượng của 1 mình, cô độc, cá tính tiêu cực cố chấp, không thích thể hiện tính cảm, không lợi cho hôn nhân. Tuy nhiên khả năng kiến giải khá tốt, nhưng đôi lúc lại sử dụng không đúng chổ nên có sự xa cách với mọi người.
Như Cô thần ở Mệnh, lúc nhỏ nhiều vất cả, long đong, hướng nội lại hay tự ti, thậm chí có thể dẫn tới xu hướng cô độc, 1 mình không thích hòa hợp với mọi người. Cũng bởi vì thế mà tính cách có nhiều thứ khác với mọi người, hứa nhiều nhưng làm ít. Nên nó cũng không nên nhập cung phụ mẫu hoặc cung phu thê dễ duyên bạc hoặc trì hôn, tụ ít ly nhiều.
Ưu điểm: độc lập tử chủ, không thích dựa vào người khác, nhiều kiến giải rất tốt, coi trọng nguyên tắc, không theo số đông, có lập trường.
       Nhược điểm: tiêu cực chố chấp, mèo khen mèo dài đuôi, tự cao tự đại, cả đời nhiều sóng gió, phiêu bạc

Nghiệm lý phụ mẫu - Lá số tử vi bố mất từ lúc bé




nghiệm lý cung phụ mẫu


- Đây là 1 lá số mẫu về cung phụ mẫu hình khắc chính khắc, có nghĩa là cực kỳ cô khắc và bố mẹ mất khi em còn rất nhỏ.
- Bài phân tích dưới đây là 1 góc nhìn về phụ mẫu của tôi.
- Để suy đoán phụ mẫu chính xác tất nhiên chúng ta cần kết hợp nhiều cung và nhiều sao lại với nhau chứ không phải chỉ là 1 cung cố định nào.
- Khi phân tích 1 lá số mọi người thường mắc phải những sai lầm như chỉ nhìn 1 con sao hay chỉ nhìn vào 1 cung nào đó, để luận đoán mà quên mất những mối quan hệ liên quan.
- Cái sai lầm lớn nhất mà mọi người điều mắc phải đó là bỏ qua cung Mệnh. Với những lý thuyết trên mạng và trên sách vở mọi người đã đọc. Mọi người thấy rằng, rất nhiều nơi viết; trước 30 tuổi xem cung Mệnh sau 30 tuổi xem cung Thân.
- Với quan điểm của tôi, tôi không phản bác, nhưng cũng không đồng tình về quan điểm này. Tuy quan điểm này không sai, nhưng vẫn có nhiều điểm chưa hợp lý. Về quan điểm lúc nào xem Mệnh lúc nào xem Thân đòi hỏi chúng ta phải có kinh nghiệm luận đoán lá số, và tùy vào từng lá số, tùy từng cá nhân như thế nào, môi trường hoàn cảnh ra sao, rồi từ đó có con đường tư duy luận đoán riêng.
- Trên lá số, mỗi con sao điều có mỗi nhiệm vụ riêng và chủ về 1 sự vật sự việc gì đó. Những con sao này luôn có tác dụng trong mọi hoàn cảnh, chứ không phải cứ nhập hạn mới phát huy được tác dụng. Về phần tính hạn, mỗi phái mỗi người đều có mỗi quan điểm khác nhau. Ở đây xin phép không bàn tới vấn đề nhạy cảm này, ai học gì cứ theo quan điểm của phái mà mình đã học.
- Để xem phụ mẫu như thế nào đầu tiên chúng ta cần phải xem xét cung Mệnh Thân của đương số như thế nào? Có cô khắc với bố mẹ hay không hay cung phúc đức của người ấy như thế nào? Có cứu vãng được tình hình của phụ mẫu hay không?
- Sau đó xem xét cung Phụ mẫu xem như thế nào, có cô khắc với phụ mẫu không, phụ mẫu có giúp đỡ mình nhiều trong cuộc sống hay không hay phải xa cách, phụ mẫu rượu chè cờ bác tình ái bên ngoài hay không, vân vân và vân vân…
- Tiếp theo, nếu bị cô khắc hoặc hình khắc chúng ta xem xét đến Thái Âm và Thái Dương xem có phạm Kỵ Hình Sát hay không.
- Thái Âm tượng trưng cho mẹ, Thái Dương tượng trưng cho cha, phần này chúng ta phải nhớ cẩn thận kẻo nhầm với những phần khác.

Sau đây chúng ta đi vào ví dụ về phụ mẫu ở lá số phía trên.

  • Thứ nhất:
Xét về cung Mệnh:

- Địa không (Đ), Thiên mã nhập Mệnh cộng thêm Tuần Triệt, chủ về sự xa cách, vất vã thăng trầm lúc trẻ phải đi xa nhà mà lập nghiệp. Có Địa Kiếp ở đối cung và tam hợp Thái Dương hóa Kỵ.
- Bước đầu chúng ta có thể nhận định rằng, Mệnh này là mệnh cô khắc với lục thân.
  • Thứ 2:
Xét về cung phụ mẫu:
- Cung phụ mẫu Vô chính diệu (VCD) – không có chính tinh ở cung này gọi là cung VCD -  có Tuần Triệt án ngữ, Kình dương Đà là hội hợp.
- Như thế chúng ta lại thêm 1 quyết đoán nữa là chủ về xa cách bố mẹ, hình khắc bố mẹ, hoặc không hòa thuận với bố mẹ, có thể bố mẹ làm ăn xa, không quan tâm đến con cái…
- Mệnh cô khắc, cung Phụ mẫu cô khắc, vì thế chúng ta xem xét tiếp đến Thái âm và Thái dương xem con sao nào bị xung phá. Thái âm bị xung phá thì mẹ bị tổn thương hoặc hình khắc, Thái dương bị xung phá thì cha tổn thương hoặc hình khắc.
  • Thứ 3:
Xét về Thái âm và Thái dương
- Về phần này các bạn đọc lại bài cách luận đoán phụ mẫu ở bài viết trước để tham khảm rỏ hơn về sự kết hợp giữa cung phụ mẫu và Thái âm, Thái dương.
- Thái Dương hóa Kỵ, Tang môn đối cung có Linh tinh, Thiên hình, Bạch hổ, tam hợp có Địa không chiếu về.
- Thái Âm Địa kiếp đối cung có Địa không, Thiên mã, Hỏa tinh Linh tinh, Thiên hình.
Qua 2 sao Thái âm và Thái dương ta thấy người này chủ hình khắc cả bố lẫn mẹ. Có nghĩa khi sinh ra sẽ có những điều không tốt, không hay xẩy đến với gia đình.
- Tuy nhiên, chúng ta không nên đổ lỗi do ai cả, vì mỗi người có mỗi số phận, mỗi người được sinh ra và gặp nhau đều là duyên số.

Kết luận: Từ 3 dữ kiện trên chúng ta có thể kết luận, bố người này mất khi em con rất nhỏ. Cuộc sống dần trở nên khó khăn với gia đình em, nếu như làm con nuôi người khác hoặc xa gia đình có thể giảm được hình khắc và vất vả.

Người viết: Minh Tuệ
Facebook: https://www.facebook.com/minhminhtue24




CUNG PHỤ MẪU - LÀM THẾ NÀO ĐỂ LUẬN ĐOÁN



Để suy đoán bố mẹ còn mất như thế nào, trước tiên phải nhìn vào Thái Dương và Thái Âm; Thái Dương lạc hãm chủ bố mất trước, Thái Âm lạc hãm chủ mẹ mất trước. Nếu Thái Dương và Thái Âm cũng hãm hoặc cùng đắc địa thì phải xem Thái Âm hóa Kỵ hay Thái Dương hóa Kỵ hay không?

Để suy đoán bố mẹ còn mất như thế nào, trước tiên phải nhìn vào Thái Dương và Thái Âm; Thái Dương lạc hãm chủ bố mất trước, Thái Âm lạc hãm chủ mẹ mất trước. Nếu Thái Dương và Thái Âm cũng hãm hoặc cùng đắc địa thì phải xem Thái Âm hóa Kỵ hay Thái Dương hóa Kỵ hay không?

Nhật Nguyệt phản bối, sinh ban ngày bất lợi cho mẹ, sinh ban đêm bất lợi cho cha.
Tuy vậy, chúng ta cần phải kết hợp với cung phụ mẫu từ chính tinh, phụ tinh và các sao hội hợp như thế nào để định đoán cát hung.

Như Kình dương, Đà la độc thủ ở cung phụ mẫu, có Thái Âm và Thái Dương hội hợp, chủ hình khắc.

Hỏa tinh hoặc Linh tinh độc thủ ở cung phụ mẫu, gặp Thái Âm Thái Dương hãm hoặc hóa Kỵ, có thể làm con nuôi họ khác hoặc lúc còn nhỏ đã xa cách bố hoặc mẹ. Cụ thể như thế nào cần phải tham khảo thêm tam phương tứ tính mà định đoạt.

Cung Phụ mẫu không thích gặp Xương Khúc, Thiên Khôi Thiên việt, dù chỉ 1 con cũng không thích. Ví dụ: chỉ gặp Văn khúc mà không gặp Văn xương cũng không nên. Chủ về quá trọng tình cảm với phụ mẫu, hoặc bố mẹ tái hôn, hoặc bố mẹ thường xuyên phải đi công tác xa nhà, hoặc bố mẹ có tình nhân bên ngoài.

Cung Phụ mẫu có thể luận đoán mối quan hệ giữa mình với bố mẹ, sự “tồn vong” của bố mẹ. Ngoài ra, cung phụ mẫu còn có thể luận đoán cấp trên với mình như thế nào. Lúc này chúng ta chỉ cần luận cung phụ mẫu cùng tam phương tứ chính chứ không cần phải xem xét Thái Dương Thái Âm.

Cung phụ mẫu gặp Khoa Quyền Lộc chủ phụ mẫu quý hiển, trong trường hợp này không nên luận là khắc phụ mẫu.

Cung phụ mẫu gặp Khoa Quyền Lộc, đôi lúc có thể là phụ mẫu có chức vị, làm quản lý công ty xí nghiệp hoặc là người có cơ nghiệp riêng.

Cung phụ mẫu gặp “tứ sát”, cũng không nhất định là chính khắc, chỉ có thể là mối quan hệ không tốt. (phần này có thể là mối quan hệ của mình với bố mẹ hoặc mối quan hệ giữa mình và những người quản lý nơi làm việc). Hình khắc hay không phải xem các cung khác có sự cứu giải hay không.

Cung phụ mẫu gặp Lộc tồn Thiên mã, chủ phụ mẫu thường hay phải di chuyển hoặc phải rời xa bố mẹ hoặc phải thay đổi cấp trên.

Cung phụ mẫu cát hóa gặp nhiều cát tinh. Lúc này nhìn lại cung Mệnh xem có đẹp hay không. Nếu cung Mệnh đẹp chủ lúc đầu được nhờ vả bố mẹ hoặc có nhiều sự ưu ái của cấp trên mà gầy dựng sự nghiệp. Nếu cung Mệnh quá yếu, là người thích nhờ vả, phụ thuộc vào gia đình.

Cung phụ mẫu tốt khi gặp được Thiên Lương, Thiên Thọ, Thiên Phúc, Giải  thần, chủ bố mẹ trường thọ và được bố mẹ giúp đỡ nhiều.

Lưu niên đại hạn ở cung Phụ mẫu không thích gặp Xương Khúc, tá tinh này không tốt cho cung phụ mẫu,  thấy Tang môn, Bạch hổ, Điếu khách cùng sát kỵ thì nên lưu ý sức khỏe bố mẹ, nặng thì có tang chế. Nếu chủ lá số là trưởng nam thì càng ứng.

Lưu niên đại hạn đến cung phụ mẫu có hình sát kỵ, chủ phụ mẫu tai bệnh, với cấp trên thì quan hệ không tốt, đây chính là tính chất cô khắc của cung phụ mẫu.

Người viết: Minh Tuệ

Sao Tử vi ở cung phụ mẫu

Sao tử vi ở cung phụ mẫu

Sao Tử vi ở cung Phụ mẫu chủ phụ mẫu có uy quyền, nếu không có “bách quan triều củng”, trong gia đình chủ về hay ra lệnh, bảo thủ, thích mọi người phải nghe lời mình. Nếu Tử vi không gặp “bách quan triều củng” mà gặp nhiều sát hình kỵ, lúc này nó thể hiện tính cô khắc rất cao. Lúc nhỏ, ít được gần gũi bố mẹ hoặc ít được bố mẹ quan tâm, hoặc bị bố mẹ áp đặt quá mức, bố mẹ hay ra lệnh.
Với những tính chất ấy, chúng ta cũng có thể suy ra mối quan hệ giữa mình và cấp trên của mình. Đó là, cấp trên hay ra lệnh, bảo thủ, không có sự bảo vệ đối với nhân viên.
Tử vi cùng Kình dương, Hỏa tinh đồng cung tại cung Ngọ thì phụ mẫu tính tình nóng nảy, hoặc mối quan hệ giữa mình và bố mẹ không tốt. Gặp thêm Xương Khúc hoặc sao đào hoa, bố mẹ dể có tình nhân bên ngoài hoặc rượu chè cờ bạc.
Như “Tử vi Tham Lang” đồng cung ở Mão, Dậu thì không nên gặp Vũ Khúc hóa Kỵ, nếu sát tinh hội chiếu, chủ về bố mẹ gặp nhiều tai ương, bệnh tật, phá sản…Cũng không nên gặp Liêm trinh hóa Kỵ, cùng sát tinh chủ xa cách phụ mẫu, không được phụ mẫu chăm sóc. Gặp thêm Hỏa Linh ở Mệnh, tuổi trẻ nên làm con nuôi người khác.
“Tử vi Phá quân” gặp sát tinh, tức hình khắc chia ly. Đối với cấp trên thì mối quan hệ không được tốt, có những xu hướng xẩy ra như sau: bất hòa hay cải vả với cấp trên, phải thay đổi nơi làm việc hoặc thường xuyên thay đổi cấp trên.
Tổ hợp “Tử vi Phá quân” không phải là tổ hợp chính khắc. Nhưng khi gặp sát tinh thì chủ về ly biệt, xa cách. Hội Vũ khúc hóa Kỵ, phụ mẫu dể bị bệnh ở đầu hoặc hệ thần kinh có vấn đề. Hội Liêm trinh hóa Kỵ gặp nhiều hình sát chủ hình khắc bất hòa.
Tử vi Thiên Phủ ở 2 cung Dần Thân, không gặp Tả Hữu Xương Khúc Khôi Việt thì không gặp hình khắc. Nhưng gặp Xương Khúc, Tả Hữu, Đào hoa…chủ bố mẹ có tình nhân hoặc bố mẹ lấy vợ lấy chồng khác.
Tử Vi hóa Khoa chủ phụ mẫu quyền uy, Thiên Phủ hóa Khoa chủ được phụ mẫu che chở. Tử vi hóa Quyền ắt Vũ khúc hóa Kỵ, không gặp sát thì ít hình khắc, gặp sát tinh, hình tinh, phụ mẫu làm ăn dể thất bại.
Khi luận phụ mẫu cần phải kết hợp cùng với Thái Dương và Thái Âm, xem sinh ban ngày hay sinh ban đêm mà luận đoán.
Người viết: Minh Tuệ
Sao Tử vi ở cung phụ mẫu


Bản chất của sao Vũ khúc


Sao Vũ khúc (武曲) : 

Người Mệnh có sao vũ khúc chú ý đến cuộc sống hiện tại và tương lai, giống như các bánh răng liên tục chạy, và không thể dừng lại. Do đó, người có sao vũ khúc tọa thủ không đơn giản nói rằng họ chỉ biết kiếm tiền. Đối với người Mệnh có sao Vũ khúc họ luôn trân trọng cuộc sống của mình bằng cách làm việc, và thông qua công việc để có cuộc sống tốt hơn và họ không muốn lãng phí thời gian của chính mình. Vì vậy, tất cả những người có sao vũ khúc tọa thủ đều làm việc chăm chỉ, phải nói là có bản chất làm việc chăm chỉ, và nếu cần thiết, họ sẽ bất chấp làm mọi thứ để đạt được điều mà họ mong muốn.

Những hạn chế của sao vũ khúc

Người có sao vũ khúc có khuynh hướng chú trọng quá nhiều vào thực tế. Khi tiếp xúc với ai đó 1 thời gian, họ nhân ra rằng cuộc sống không giống như những gì họ đang mong muốn. Xã hội không phải lúc nào cũng chân thực như họ nghĩ, bản chất con người là sự dối lừa và dần dần họ mất niềm tin vào mọi thứ.

Người có sao Vũ khúc nhập Mệnh có tính chất làm việc chăm chỉ, họ chú ý đến tất cả các "giá trị" thực tế. Vì vậy, đừng bao giờ nói với họ rằng họ đang mơ tưởng quá xa trong tương lai. Bởi vì "giấc mơ" đó rất khó để nói đó là giấc mơ hay là mục tiêu mà người đó đang hướng tới.
Cũng vì người Vũ khúc không thích mơ tưởng quá xa sôi mà họ sẽ làm việc để biến “giấc mơ” đó trở thành hiện thực. Do đó, tính thực tiễn là lợi thế của họ và những “giấc mơ” đó cũng là thứ mà nhiều người không thể làm được.

Những điều cần lưu ý:

Vũ khúc là một ngôi sao siêng năng, đặc điểm của nó là sự siêng năng, cá tính, táo bạo, kiên quyết và thiếu kiên nhẫn. 

Người có sao Vũ khúc ở mệnh rất chăm chỉ và siêng năng làm việc, bất kể họ làm gì, họ cũng điều có động lực để làm. Nhiều lúc bạn sẽ cảm thấy họ đạo đức giả, nói dối, cáo già giả nai tơ... chỉ là đôi lúc họ quá thành thực đến thực dụng. Nhưng họ cũng rất táo bạo, thẳng thắn, dám làm những việc mà người khác không nghĩ tới. Vì vậy, đừng bao giờ nghĩ họ hiền mà bắt nạt họ.

Đại diện sao Vũ khúc là vua Chu Vũ Vương - Vũ Vương thành tâm tuân theo những lời dạy của tổ tiên mình. Người xưa khuyên những người thống trị nên siêng năng và ngay chính, tôn kính trời đất, yêu dân chúng, cự tuyệt sự lười biếng và xa hoa. Họ cảnh báo rằng sự nghiệp của một người thống trị có thể bị ngăn trở nếu những ham muốn ích kỷ của anh ta chiến thắng các tiêu chuẩn đạo đức.

Sự nổ lực, siêng năng và liêm chính của ông giúp ông trở thành vị vua đỉnh cao trong nền văn minh cổ đại. Và triều đại nhà Chu cũng là triều đại tồn tại lâu đời nhất trong lịch sử Trung Quốc.

Và đó cũng là đặc tính của sao Vũ khúc, sự nổ lực hết mình và sự siêng năng đến từ cả trái tim.
Sao Vũ khúc là ngôi sao đại diện cho sự giàu có. Đặc biệt họ luôn quan tâm đến việc mong muốn có thật nhiều tiền. Vì vậy họ luôn tích cực trong những vấn đề liên quan đến việc kiếm tiền.

Sự quan tâm trong cái giàu có, làm việc, tìm kiếm tiền bạc, và tính cách thích thực tế làm cho họ nhiều lúc không thể nào thể hiện được tính lãng mạng. Hầu hết đa số điều không thích nói về tình cảm quá nhiều và đó cũng chính là điểm yếu của họ.

Họ không giỏi nói về tình cảm lãng mạng, không phải là họ không yêu thương người đối diện.
Thay vào đó, họ thích lấy giá trị vật chất để thể hiện tình cảm. Vì họ nghĩ rằng kiếm được nhiều tiền để nữa kia có cuộc sống tốt hơn. Đây chính là sự biểu hiện tình yêu của những người Mệnh có sao Vũ khúc. Họ không thể biểu đạt được tình yêu của họ ra ngoài bằng tình cảm mà chỉ dùng vật chất để biểu đạt và đôi lúc bị hiểu nhầm là 1 con người suốt ngày chỉ biết vật chất.

Tác giả: Minh Tuệ

Cự môn nhàn đàm (Phần 6)


Cự môn nhập cung Điền trạch
Trong Cổ thư viết về CỰ MÔN nhập cung Điền như thế này :
“Cự môn nhập miếu lâm điền trạch cung, hữu hóa quyền, hóa lộc cập lộc tồn cát diệu đồng cung giả, tự trí sản nghiệp. Thái dương đồng độ, tuy hữu điền sản, đãn nhân sản nghiệp nhi minh tranh ám đấu, đa nhàn khí. Thiên ky tinh đồng độ, thì khởi thì lạc, dịch lập dịch bại. Thiên đồng tinh đồng độ giả, đa nhân đê hãm thủy điền hà câu đẳng nhi khởi củ phân. Cự môn tinh hóa kỵ, gia trạch bất an, nhân khẩu thiệt thị phi nhi viễn ly, hoặc gia trạch trung đa nhàn thị nhàn phi. Dữ kình dương, đà la, thiên hình hội chiếu, chủ nhân trụ trạch hoặc sản nghiệp phát sinh củ phân hoặc thiệp tụng, hoặc gia trung nhân khẩu đa hình thương tai họa. Dữ hỏa tinh, linh tinh, không kiếp, đại háo… hội chiếu, chủ gia trạch tao binh họa hoặc hỏa tai, hoặc thưởng kiếp thâu đạo, hoặc chủ bản nhân phiêu đãng tứ hải”
Dịch :
Cự môn nhập Miếu lâm vào Điền Trạch cung, mà có Lộc Quyền, Hóa Lộc đồng cung thì tự tay tạo dựng sản nghiệp. Thái dương đồng độ, thì tuy có điền sản nhưng vì điền sản mà phải tranh giành vất vả, không được nhàn hạ. Thiên cơ đồng độ thì lúc lên lúc xuống, dễ lập nên mà cũng dễ bại đi. Thiên đồng đồng độ, thì phần nhiều là điền sản ở chỗ ruộng trũng, hoặc ao hồ mà lập lên, lại không tránh khỏi tranh giành. Cự Môn-Hóa Kỵ, thì gia trạch bất anh, vì khẩu thiệt thị phi mà mà phải chia ly xa cách, hoặc trong gia trạch nhiều chuyện nói ra nói vào. Cùng với Kình dương, Đà la, Thiên hình hội chiếu, chủ về việc nơi ở hoặc điền sản phát sinh tranh giành, hoặc kiện tụng, hoặc người trong nhà hay gặp hình thương tai họa. Cùng với Hỏa tinh, Linh tinh, Không Kiếp, đại hao…hội chiếu thì chủ về gia trạch gặp binh họa hoặc hỏa tai, hoặc cướp bóc, trộm đạo, hoặc chủ bản thân phiêu đãng bốn biển..
Nói chung thì trong mọi trường hợp, kể cả khi hội hợp được cát tinh, cũng không có trường hợp nào bình yên cả. Vương Đình Chi bình về Cự Môn cư Điền như sau :
“…cự môn bản thân hữu phiêu phù chi tính, sở dĩ bất nghi cư điền trạch cung, cái điền trạch đích tính chất nghi ổn định.
Đãn đương cự môn kiến hóa lộc chi thì, tắc tuy sản nghiệp bất đoạn biến hoán, đãn thủy chung hữu tự trí.
Cự môn phong Thái dương, nghi tại thân cung, tắc năng đắc dần cung đích thái dương chiếu hội, chích yếu bất kiến hóa kỵ cập dương đà, tắc nhưng chủ phát việt; duy nhược kiến thái âm hóa lộc, thiên ky hóa khoa, thiên đồng hóa quyền giáp củng, nhi cự môn hóa kỵ, tắc điền trạch tuy vượng, nhưng đa thị phi. Thảng dương đà đồng hội cự môn, tắc gia trạch tuy phát tài diệc nhạ tai bệnh.
Cự môn đối thiên cơ, sản nghiệp thì thì biến động, diệc chủ bàn thiên tần nhưng. Kiến sát kỵ tắc khả năng nhất sinh phiêu bạc. Lưu niên phùng thử tinh hệ, khả năng vi công tác hoàn cảnh biến động.
Cự môn đối Thiên đồng, dĩ tuất cung vi giác giai. Thái âm thái dương giai tại miếu vượng chi địa, chủ gia trạch hoặc phục vụ ky cấu hoạch cát. Lưu niên phùng thử, tắc hữu nhất niên chi an định. Đãn sát kỵ hình thấu hội, hựu kiến hỏa linh, tắc chủ hỏa tai, hữu bị đạo chi ngu”
Dịch :
” Bản thân Cự môn có tính Phiêu phù (trôi nổi), vì thế mà không nên cư vào Điền trạch, làm cho điền trạch không ổn định. Nhưng nếu được Hóa lộc thì tuy sản nghiệp không ngừng biến hóa, nhưng cuối cùng thì cùng tự tay gây dựng được.
Cự môn che ám Thái dương, không phải là cung Thân thì cũng là cung Dần sẽ có Thái dương hội chiếu, miễn là không gặp Kỵ, Kình, Đà thì vẫn phát lên được.
Nếu được Thái Âm hóa Lộc, Thiên cơ Hóa Khoa, Thiên Đồng Hóa Quyền giáp-củng, mà Cự Môn gặp Hóa Kỵ thì điền trạch tuy vượng nhưng nhiều thị phi. Nhưng nếu gặp Dương Đà cùng hội với Cự Môn thì gia trạch tuy có phát tài nhưng cũng rước lấy tai bệnh.
Cự Môn với Thiên cơ, sản nghiệp thường biến động, cũng chủ về liên tiếp chuyển đổi. Gặp Sát – Kỵ thì nhiều khả năng là một đời phiêu dạt. Lưu niên gặp tinh hệ này, khả năng là vì hoàn cảnh làm việc mà biến động.
Cự Môn với Thiên Đồng, lấy cung Tuất làm ví dụ, có Thái Âm Thái Dương đều tại đất miếu vượng, chủ về gia trạch hoặc các thứ liên quan được tốt. Lưu niên gặp cách này, thì có một năm an định. Nhưng nếu Sát-Kỵ-Hình hội tụ, lại gặp Hỏa Linh, thì chủ về hỏa lai, dễ gặp trộm cắp…”

Cự môn nhàn đàm (Phần 5)


Cự môn phối với Lục Sát (Không Kiếp Kình Đà Hỏa Linh).
Ngay từ đầu đã nói rằng Cự Môn là Hung tinh, chủ thị phi-ám muội “minh tranh ám đấu”. Bởi vậy, khi phối với Hung-Sát tinh thì đương nhiên là KHÍ CÁCH, tức là sẽ bị phá cách nặng mà cổ nhân phê rằng “Hủ mộc nan điêu” – như khúc gỗ đã mục nát, không thể đẽo gọt được thành cái gì cả. Kể cả khi Cự miếu vượng mà hội hung sát tinh thì cũng sẽ bị phá cách, không còn tốt đẹp nữa. Nhưng tùy theo mỗi nhóm Hung-Sát tinh mà sẽ có nhưng tác dụng khác nhau đến Cự Môn. Ta hãy thử tìm xem xưa nay người ta luận như thế nào về Cự gặp Hung-Sát tinh.
Đối với Không Kiếp : Địa Không-Địa Kiếp là một cặp sao Sát tinh đáng ngại nhất của Tử vi, thậm chí có người còn cho rằng “đóng đâu chết đó”. Vậy khi kết hợp với Cự Môn, thì đương nhiên sẽ làm tăng tính Hung của Cự Môn. Về cơ chế, thì lúc ấy cái “tính hung” của Cự sẽ phối với “tính hung” của Không Kiếp mà tác họa. Tính Hung của Cự Môn là Thị Phi, Ám Muội.. mà tính Hung của Không Kiếp là “giáng thương nhân, hình pháp, thất tài, cô đơn chi họa” tức là giáng họa về thương tích, hình pháp, mất tiền, cô đơn. Cả hai “tính hung” này mà phối hợp với nhau thì khó lòng tránh được tại họa, ít nhiều thì cũng phải gặp phiền toái.
Đẩu số toàn thư có viết : “Thử tinh hóa ám bất nghi phùng, canh hội sát tinh dũ tứ hung, thần xỉ hữu thương kiêm tính mãnh, nhược nhiên nhập miếu khả hòa bình.” – Nghĩa là, Cự môn hóa Ám tinh chẳng nên gặp làm gì, nếu lại hội sát tinh thì càng hung, môi răng dễ bị thương tích lại thêm cái tính mạnh bạo, làm việc gì cũng “nóng giận mất khôn” mà để lại hậu quả, nếu như Cự mà nhập miếu, thì may ra có thể được hòa bình.
Như vậy, Cự gặp Không kiếp thì nên chú ý, ngoài việc mang thương tích vào môi-răng, nhưng quan trọng hơn cả là cái tính Thị Phi-Ám Muội của Cự bị kích động lên, cho nên thường tai họa sinh ra do hành xử nóng giận, vội vã, không kiềm chế được bản thân mình.
Đối với Kình Đà : Kình – Đà là hai sát tinh cũng rất nặng nề của Tử vi, tác dụng của nó tuy có khác nhau, nhưng cổ nhân nhóm với Hỏa Linh và quy nó về Tứ Hung. Đối với Cự Môn, thì tác dụng của Kình – Đà có phần nặng nề hơn Không Kiếp. Trong cổ thư có viết về Cự-Kình-Đà một câu “Cự môn Tứ sát – hãm nhi hung” – tức là Cự Môn gặp tứ sát thì không những bị vây hãm, mà còn Hung. Khi Cự gặp Dương-Đà-Hỏa-Linh thì coi như bị phá cách nặng, không những không thể phát huy được (hãm), mà còn đem tai họa đến (hung).
Trần Đoàn lão tổ có nhận xét rằng “Tham Hao đồng hành, nhân hảo đồ phối. Ngộ đế tọa tắc chế kì cường. Phùng lộc tồn tắc giải kì ách, trị dương đà nam đạo nữ xướng” – Nghĩa là, Cự môn mà gặp Tham-Hao đồng hành, thì như gặp người bạn tốt, gặp Tử vi thì có thể chế được tính cường ngạnh, gặp Lộc tồn có thể giải được ách, gặp Dương-Đà thì trai dễ trộm cắp, mà nữ dễ làm kỹ nữ.
(có nhiều thắc mắc trong câu này của Trần Đoàn lão tổ là Tại sao Cự lại có thể gặp được Tham hoặc Tử vi, về mặt an sao thì không thể, và cho rằng câu này là man ngôn. Nhưng về mặt phối hợp với nhau để luận đoán, thì trên lá số không hẳn chỉ có một sự phối hợp khi an sao, mà còn nhiều sự phối hợp khác nữa, vấn đề này cần suy ngẫm thêm).
Bình luận về Cự-Dương-Đà, Ngọc Thiềm tiên sinh phê rằng : “Cự môn dương đà vu thân mệnh tật ách luy hoàng khốn nhược đạo nhi xướng” – Nghĩa là, Cự môn Dương-Đà mà đóng vào Thân-Mệnh hoặc Tật Ách thì gày còm, vàng vọt, ốm yếu, dễ sinh trộm cắp hoặc kỹ nữ.
“Cự môn thủ mệnh kiến Dương Đà, nam nữ tà dâm” – Người Cự môn thủ mênh, nếu trong tam phương tứ chính mà hội Kình Đà, thì thường mang lòng tà dâm.
Với Kình Dương, phê rằng “Cự Hỏa Kình dương, chung thân ải tử” – tức là Cự mà gặp Hỏa linh, Kình dương, thì cuối đời cái chết không được bình thường (ải tử – là thắt cổ tự tử, nhưng dịch cho thoáng nghĩa thì nói như trên).
Với Đà la, Phú nói rằng “Cự môn Đà la đồng cư Thân Mệnh hoặc Tật Ách cung, chủ bần khốn, thể nhược tàn tật, tổ nghiệp phiêu đãng, bôn ba lao lục” – Cự môn Đà la cùng đóng ở Thân, Mệnh hoặc Tật ách cung, thì chủ về nghèo khốn, thân thể yếu đuối, tàn tật, bỏ tổ nghiệp mà trôi nổi, bôn ba vất vả.
Ngoài ra, trong Toàn thư còn thêm một câu về hình tướng “Cự Môn, Đà La tất sinh dị chí” – Tức là Mệnh thân mà có Cự Môn, Đà La thì ắt là sẽ có nhưng nốt ruồi khác lạ (câu này bản phường chỉ nói rằng : Đà la tất sinh dị chí, mà không có Cự môn – cần chiêm nghiệm)
Đối với Hỏa – Linh : Hỏa Linh là hai Hung tinh cùng hàng với Không Kiếp Kình Đà. Phối với Cự Môn, thì cũng giống như những hung sát tinh trên, làm cho hung tính của Cự tăng lên mà tác họa. Tính của Hỏa Linh đặc trưng là yểu chiết, cho nên trong Tử vi còn gọi là Đoản thọ sát tinh. Chính vì vậy, mà khi gặp Hung tinh Cự Môn thì trong các cách cục đều phảng phất ý nghĩa này.
Như câu “Cự Hỏa Kình dương chung thân ải tử”, hoặc “Cự môn Hỏa Linh phùng ác hạn, tử vu ngoại đạo” – Cự môn mà gặp Hỏa Linh, nếu vào hạn ác thì có thể chết ngoài đường.
Đối với cách này, thì rất cần phải có Lộc tồn để hóa giải (như trên đã dẫn), và khi nhập hạn thì rất cần Tử vi để áp chế thì có thể hóa giải được cái sự hung hiểm của trường hợp này. Ngọc Thiềm tiên sinh phê rằng “Cự môn Hỏa Linh, vô Lộc tồn Tử vi áp chế, quyết phối thiên lý, tao hung” – Nghĩa là, Cự-Hỏa-Linh mà không có Lộc-Tử hóa giải, áp chế thì phải quyết là sẽ lấy chồng lấy vợ rất xa (thiên lý), mà sẽ gặp hung họa. Nhưng như bài trước đã viện dẫn, khi Cự môn cư Mão, người tuổi Giáp sẽ gặp Kình dương đồng cung, sẽ là hung cách chứ không hy vọng hóa giải được.
Và cuối cùng, có lẽ cũng căn cứ theo tính chất của Hỏa-Linh, thì xưa còn nhận xét rằng “Cự môn thủ mệnh, tam hợp sát thấu, tất tao hỏa ách” – Cự môn nhập mệnh, nếu trong tam hợp có Hỏa Linh hội về, ắt sẽ gặp hỏa ách.
(câu này vẫn còn đang trong vòng nghi ngờ và tranh cãi, cho rằng nó được suy diễn ra từ tính chất của Hỏa tinh. Bởi lẽ Cự Môn thuộc Thủy, gặp Hỏa không có lẽ nào lại kích động hỏa tính của Hỏa tinh được – cần chiêm nghiệm thêm).
Tác giả: Nguyễn Trọng Tuệ