Các bài viết về "Huyền không lục pháp"
Hiển thị các bài đăng có nhãn Huyền không lục pháp. Hiển thị tất cả bài đăng

Kim Long – Huyền không lục pháp




“Kim long” là 1 loại khí vô hình. Hữu hình là Sơn Thủy, phong thủy bao gồm “Sơn long”, “thủy long”, Sơn long và Thủy long, 2 cái này cần phải phân biệt giữa sinh và tử, mấu chốt của sự phân biệt sinh tử này chính tại Sơn thủy hàm chứa trong khí của Kim long.
Kim long là 1 loại khí sinh động, hoạt bát, là cơ sở để hóa thành Sơn thủy hữu hình, đó chính là 1 loại sinh khí mạnh mẽ,  nói về sơn, thế Sơn kéo dài uyễn chuyễn nhấp nhô lúc ẩn lúc hiện, uyển chuyển như rồng bay, rừng cây rập rạp, đất đá nhỏ mịn tươi nhuận.
Nói về thủy nơi đất bình dương, phải uốn lượn, hình thù giống như con rồng, ở đất bình dương được gọi là thủy long
Ví dụ: “Núi đất đầy đá cứng, đâm ra 4 phía, đất bằng phẳng nhưng nước mênh mông, không cao cũng không thấp, không 1 bóng người, thì khí bất động”
Cũng có thể nói đó là kim long nhưng là tử long.
Để phân biệt sinh Long hay tử Long,  trong Thanh nan tự có nói: “ tiên khán Kim long động bất động, thứ khán huyết mạch nhận lai long”. Kim long khí động tức là sinh long, kim long khí bất động tức là tử long, phía trên có nói, nếu như hình thế bên ngoài không sinh động hoạt bát hoặc khô cằn, không có sức sống, có thể dùng mắt thường nhìn thấy được.
Nhưng thật ra bí quyết về kim long trong huyền không lục pháp chân chính đó là lý khí.
Kim long đầu tiên phải nói về lý khí, cùng khái niệm với ở trên nói, khí là dạng vô hình, nhưng tùy theo nguyên vận sẽ biến đỗi, và di chuyển ở những phương vị không giống nhau. Trong khẩu quyết huyền không lục pháp, đây chính là phương pháp tìm ra phương vị của kim long.
Trong Thanh nan áo ngữ có nói “ nhận kim long, nhất kinh nhất vĩ nghĩa bất cùng, động bất động, trực đãi cao nhân dị diệu dụng”
Theo Đàm Dưỡng Ngô có nói về kim long và thanh nan tự, trước tiên phải xem Kim long động hay bất động, Kim long không phải lúc nào cũng giống nhau, trong áo ngữ viết khí là vô hình, thanh nan tự viết hình thể là hữu hình.


   Huyền không lục pháp - Song nguyên bát vận


- Song nguyên bát vận được chia thành thượng nguyên và hạ nguyên.
- Thượng Nguyên gồm vận 1, vận 2, vân 3, vận 4.
- Hạ Nguyên gồm vận 6, vận 7, vận 8, vận 9.
- Thời gian độ dài ngắn của mỗi vận cũng không giống nhau, mỗi vận không nhất định phải là 20 năm giống như tam nguyên cữu vận.
- Muốn biết được độ dài ngắn của từng vận, trước tiên ta phải biết từng vận ứng với từng quái nào.      Vận có 8 vận, vận 1, vận 2, vận 3, vận 4, vận 6, vận 7, vận 8, vận 9, quái gồm có 8 quái Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài.
- Vậy làm sao để biết được vận nào ứng với quái nào? Lúc này chúng ta phải cần dùng tới tiên thiên bát quái phối với số lạc thư.





Về Lạc Thư, mỗi số biểu trưng cho 1 phương vị trong 1 cung nào đó, và nó luôn bất biến, ví dụ: số 1 tượng trưng cho phương Bắc, số 9 tượng trưng cho phương Nam, số 7 tượng trưng cho phương Tây, số 3 tượng trưng cho phương Đông...



- Bát quái bao gồm tiên thiên bát quái và hậu thiên bát quái.
- Thứ tự của tiên thiên bát quái và hậu thiên bát quái không giống nhau. Thứ tự của tiên thiên bát quái là Càn, Đoài, Ly, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn. Còn thứ tự của hậu thiên bát quái là Càn, Khảm, Chấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài. Chính vì vậy, quý độc giả cần phải phân biệt rỏ thứ tự của tiên thiên và hậu thiên bát quái để tránh những nhầm lẫn không đáng có.

- Số lạc thư phối với phương vị cữu cung và tiên thiên bát quái phối với phương vị cữu cung, kết hợp 2 đồ hình này lại, chính là đồ hình tiên thiên bát quái phối lạc thư.
- Tiên thiên bát quái phối với số lạc thư, mỗi một số kết hợp với cung vị ứng với 1 quái. Các quái đó biểu thị các vận từ vận 1 đến vận 9.
- Ví dụ: vận 1 là quái Tốn, vận 2 là quái Tốn, vận 3 là quái Ly, vận 4 là quái Đoài, vận 6 là quái Cấn, vận 7 là quái Khảm, vận 8 là quái Chấn, vận 9 là quái Càn.
- Quái số là biểu thị tên của vận, vậy khi đã biết tên của từng vận thì độ dài ngắn của từng vận sẽ được tính như thế nào?
- Nó dựa trên hào âm và hào dương để tính toán. Trong kinh dịch cổ đại thường dùng số 9 biểu thị cho hào dương, số 6 biểu thị cho hào âm.


còn tiếp