Chuyên mục tử vi

Học Tử vi online


 

Tăng Quảng - Thẩm Thị Huyền Không Học

Lời giới thiệu xuất bản

Huyền Không Phong Thủy học là một nhánh trong môn khoa học Kham Dư (Phong Thủy), có lịch sử lâu đời. Nó bắt nguồn từ lý số Hà Lạc, dựa trên Can Chi, Âm Dương, Cửu Cung và Bát Quái. Trải qua hàng nghìn năm diễn giải và chắt lọc của các bậc tiên hiền, Huyền Không Phong Thủy đã hình thành một hệ thống tri thức có cấu trúc chặt chẽ và tính logic cao, từ lâu đã được các thầy phong thủy coi là báu vật, là bí kíp không truyền của Dương Quân Tùng, Tưởng Đại Hồng và Chương Trọng Sơn. Tác phẩm “Thẩm Thị Huyền Không Học” là đại tác phẩm Huyền Không học của phong thủy gia Thẩm Trúc Nhưng thời nhà Thanh, được đúc kết từ trí tuệ của ông thông qua việc nghiên cứu “Âm Dương Nhị Trạch Lục Nghiệm” của Chương Trọng Sơn.

Thẩm Trúc Nhưng (1849-1906), tên thật là Thẩm Thiệu Huân, tự là Trúc Nhưng, người Tiền Đường, Chiết Giang thời nhà Thanh. Ông sinh vào tháng 6 năm Đạo Quang thứ 29 và mất vào tháng 6 năm Quang Tự thứ 32. Ông là phong thủy gia nổi tiếng thời Thanh, là nhân vật quan trọng trong Huyền Không Phong Thủy học. Ngay từ nhỏ, Thẩm Trúc Nhưng đã có niềm đam mê mãnh liệt đối với phong thủy học, vì vậy ông đã đọc rất nhiều sách và thường xuyên khảo sát các ngôi mộ khác nhau. Ban đầu, ông học phong thủy phái Tam Hợp, nhưng sau nhiều lần kiểm chứng thực tế, nhận thấy rằng phái phong thủy này có nhiều sai sót và khiếm khuyết. Sau đó, ông phát hiện ra phong thủy Huyền Không và nhiều lần kiểm nghiệm thành công, nên ông quyết định tập trung toàn bộ tâm sức vào việc nghiên cứu. Năm 1875, khi 26 tuổi, Thẩm Trúc Nhưng cùng với người thân là Hồ Bá An đến Vô Tích để tìm cách giải mã phương pháp Phi Tinh Huyền Không. Họ đã tìm đến hậu nhân của đại sư phong thủy Huyền Không nổi tiếng Chương Trọng Sơn, nhưng tiếc rằng sau vài tháng, họ vẫn chưa tìm hiểu được những huyền cơ thâm sâu. Về sau, Thẩm Trúc Nhưng dùng một số tiền lớn để mượn bộ sách “Âm Dương Nhị Trạch Lục Nghiệm” của Chương Trọng Sơn trong một đêm, hai người đã thức trắng đêm sao chép toàn bộ tác phẩm này. Thẩm Trúc Nhưng từ đó đã dùng cả đời mình để nghiên cứu kỹ lưỡng cuốn sách này, cuối cùng đã thấu hiểu một cách sâu sắc. Từ đó, ông có thể giải thích thông suốt phong thủy Huyền Không học từ Dương Quân Tùng đến Tưởng Đại Hồng và Chương Trọng Sơn, đồng thời bổ sung thêm các chú thích, thực sự mở ra cánh cửa huyền bí của Huyền Không Phong Thủy học. Trong cuốn “Thẩm Thị Huyền Không Học”, Thẩm Trúc Nhưng đã tiết lộ những bí mật không được truyền lại từ các bậc tiền nhân, dẫn dắt hậu học nghiên cứu Huyền Không Phong Thủy theo đúng đường lối, tạo được thành tựu xuất sắc trong lĩnh vực Huyền Không Phong Thủy học. Ông được các thế hệ nghiên cứu Huyền Không Phong Thủy sau này kính trọng, và tác phẩm “Thẩm Thị Huyền Không Học” cũng trở thành một tác phẩm kinh điển mang tính thời đại trong học thuật phong thủy.

“Thẩm Thị Huyền Không Học” được xuất bản thành bốn quyển sau khi Thẩm Trúc Nhưng qua đời, do con trai trưởng của ông là Thẩm Tổ Miên cùng các môn sinh biên tập từ những bản thảo mà ông để lại lúc sinh thời. Sau đó, trong các lần tái bản, con trai trưởng của Thẩm Trúc Nhưng cùng các môn sinh lại thu thập thêm nhiều nội dung liên quan từ bản thảo, thư tín và ghi chép của ông, bổ sung vào sách thêm hai quyển, nâng tổng số lên sáu quyển, đổi tên thành “Tăng Quảng Thẩm Thị Huyền Không Học”, trở thành một cuốn sách không thể thiếu cho những ai nghiên cứu Huyền Không Phong Thủy học.

Lần xuất bản này được dựa trên phiên bản “Tăng Quảng Thẩm Thị Huyền Không Học” năm Dân Quốc 23 (1934) để chỉnh lý và phát hành. Trong quá trình chỉnh lý, dù đã hết sức cẩn trọng chỉnh sửa, nhưng không tránh khỏi có những sai sót, mong quý độc giả không tiếc lời chỉ giáo.

Diêu Quốc Hoa - Kha Dụ

Bắc Kinh, tháng 5 năm 2011


Tăng Quảng Thẩm Thị Huyền Không Học – Quyển 1

Tựa sách “Tăng Quảng Thẩm Thị Huyền Không Học”

Tôi từng nghiên cứu nhiều sách địa lý liên quan đến việc táng tá, nhưng cảm thấy các thuyết trong đó phức tạp và rối rắm, khiến người đọc dễ rơi vào sự mâu thuẫn nối tiếp nhau. Cho đến khi đọc cuốn “Thẩm Thị Huyền Không Học”, tôi thấy trong lời tựa của Thái sử Giang Du Sinh có câu: “Loan đầu có chứng cứ thực tế, cổ kim không hề có sách giả. Lý khí chủ yếu xét trên tính hư vô, cổ kim lại có nhiều bí quyết giả tạo”. Câu nói này quả thật rất đúng! Từ đó tôi mới hiểu ra rằng trước đây mình chưa từng thật sự học, và việc học mới chỉ thật sự bắt đầu từ đây.

Khi xem xét học thuật của tiên sinh Trúc Nhưng, tôi nhận thấy rằng tiên sinh vào thời kỳ học thuật suy thoái và lu mờ này, đã nắm được ý nghĩa của “thiên nhân hợp nhất”, có ý chí mạnh mẽ trong việc làm sáng tỏ tri thức địa lý khắp thiên hạ. Thật đáng gọi là một học giả vẹn toàn!

Vào mùa đông năm Nhâm Thân tại Hàng Châu, tôi đã gặp triết tự của tiên sinh, tức Tiết Dân. Tiết Dân cũng là một người có phong cách khiêm nhường, nho nhã, mang đậm dấu ấn của tiên sinh. Ông luôn tuân thủ và bảo tồn học thuật của tiên sinh mà không thay đổi. Cuốn sách này là một trong những tác phẩm để lại của tiên sinh, tiếc rằng chưa được ông chỉnh lý trước khi mất. Nhờ Tiết Dân cùng Giang Du Sinh thu thập các bản thảo còn sót lại, chỉnh lý lại thành sách, nên mới hoàn thành được tác phẩm này. Kể từ khi phát hành, sách đã được các học giả coi trọng trong thời gian dài. Sau đó, Tiết Dân lại thu thập thêm nhiều bản thảo của tiên sinh chưa được đưa vào sách, nhờ sự nỗ lực trong nhiều năm mà sách dần trở thành một công trình đồ sộ. Tiếc thay, Du Sinh đã mất, còn Tiết Dân vì bận rộn với công việc chính sự mà không có thời gian hoàn chỉnh tác phẩm. Do đó, tác phẩm này được hoàn thiện bởi tiên sinh Vương Quân Tắc Tiên, và được đặt tên là “Tăng Quảng Thẩm Thị Huyền Không Học”. So với bản gốc, sách đã được bổ sung thêm hơn một nửa nội dung. Trong sách còn có di tác của Du Sinh do Tắc Tiên bổ sung và giải thích thêm, cùng với “Khởi Tinh Lập Thành Đồ” của tiên sinh Thân Quân Thinh Thi. Đến đây, các luận thuyết về Huyền Không đã được cuốn sách này trình bày đầy đủ. Hai tiên sinh Tắc Tiên và Thinh Thi đều là bạn đồng học của Tiết Dân, và đều có thể truyền lại học thuật của tiên sinh Trúc Nhưng. Khi sách sắp đưa ra khắc in, nhờ tiên sinh Chu Quân Gia Lâm trợ giúp kinh phí, mới chỉ đủ một nửa, tôi cũng góp thêm một phần để có thể hoàn thành tác phẩm này.

Hiện nay, những người bàn về địa lý thường cho rằng “Loan đầu là hình, lý khí là pháp”, nhưng thực chất không phải như vậy. Loan đầu với tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ, tiền Chu Tước, hậu Huyền Vũ, đây vốn dĩ là hình thế. Còn lý khí với nam là Ngọ, bắc là Tý, đông là Mão, tây là Dậu, cũng là những hình thế có thể dựa vào. Làm sao có thể nói lý khí là không hình tướng được chứ? Trong Hệ Từ Truyện của Kinh Dịch có viết: “Hình nhi thượng giả vi chi Đạo, hình nhi hạ giả vi chi Khí” (cái ở trên hình là Đạo, cái ở dưới hình là Khí). Loan đầu, với từng ngọn núi và dòng nước riêng lẻ, chính là Khí, thuộc về “hình nhi hạ” (thuộc về cái dưới hình). Còn một ngọn núi và một hướng của lý khí, chính là Đạo, thuộc về “hình nhi thượng” (thuộc về cái trên hình). Kinh Dịch dùng hình để bao quát cả trên và dưới, Khí thì thực chứng, Đạo thì hư vô. Vậy nên Loan đầu và lý khí tuy là một mà hai, hai mà một vậy.

Có người cho rằng phương pháp bày bố của Huyền Không không phải là cổ pháp. Thật ra họ không biết rằng điều này đã khởi nguồn từ Dịch Vĩ, và được Khang Thành giải thích làm cho rõ ràng hơn. Trong Chú giải của Hậu Hán Thư - Trương Hành Truyện, cũng đã trích lược thuyết này. Các bậc danh nho đều đã ghi chép lại, vậy tại sao mọi người lại không tìm hiểu mà chỉ trích? Hơn nữa, đồ hình Tử Bạch vốn bắt đầu từ “Chính Quang Lịch” thời Bắc Ngụy, lịch thư hiện nay vẫn học theo pháp này mà không hề suy suyển. Ôi, còn nghi ngờ gì nữa chứ! Khi sách hoàn thành, tôi viết lời tựa này để phác thảo sơ lược về nội dung.

Tháng 8, năm Dân Quốc thứ 22 (1933),

Kính cẩn viết lời tựa tại Ngô Huyện, Giang Tô

Chu Sư Hùng


Lời đề từ sách “Thẩm Thị Huyền Không Học” (tái bản)

Thiên địa nhất hồ, thì trừu kỳ bí. 
Thức giả ngộ chi, phủ thập diệc dịch.
Tự sạn mậu thuyết, nhược chân nhược ngụy. 
Đại hảo loan đầu, ngộ vu lý khí.
Kham dư chi học, kỳ lai hữu tự. 
Âm dương lưu tuyền, lập pháp y thủy.
Quản quách dương tằng, thừa kỳ thống hệ. 
Thiên tái du du, hào ly thiên lý.
Nhất hành diệt man, phản dĩ họa kỷ. 
Vân gian hảo biện, đồ đa cấm kỵ.
Trác tai tiên sinh, ứng vận nhi khởi. 
Hà lạc thị tông, huyền không thị ký.
Thái ất du cung, nguyên vận chưởng chỉ. 
Thuận nghịch ai bài, suy vương sinh tử.
Đắc lệnh tắc thủ, thất lệnh tắc khí. 
Oát toàn thế vận, thừa bình khả ký.
Cứu tế chi tâm, tất sinh thị thỉ. 
Đoạn giản linh thiên, tích thành phế chỉ.
Gia học uyên nguyên, canh tục khả hỉ. 
Ngô kính điệt dân, bất quý tiêu tử.
Nhĩ hữu ngô hữu, tân nông thái sử. 
Hỗ đính thành thư, bất trụy quyết chỉ.
Nãi cập hạ tẩu, đắc khuy nhất nhị. 
Như tham phật thừa, ngũ thể đầu địa.
Hận phạp mỹ chất, vị năng triệt để. 
Liêu si lý từ, tá thân diên xí.

Dịch nghĩa

Trời đất như một cái bình lớn, thời cơ sẽ mở ra điều huyền bí của nó. Người có tri thức gặp được, như cúi xuống nhặt lấy, dễ dàng biết bao.

Tự pha trộn các thuyết sai lệch, như thật như giả. Loan đầu vốn tốt đẹp, nhưng lại sai lầm bởi lý khí.

Học thuật Kham Dư, từ xưa đến nay đã có căn nguyên. Âm dương lưu chuyển, lập pháp bắt đầu từ đó.

Quan Quách Dương Tăng, kế thừa hệ thống của nó. Trải qua ngàn năm, sai lệch một chút cũng dẫn đến ngàn dặm.

Đường Nhất Hành dẹp loạn, ngược lại mang họa vào thân. Kẻ tranh biện ở Vân Giản, chỉ toàn tạo thêm điều cấm kỵ vô nghĩa.

Thật là đáng khâm phục thay tiên sinh, ứng thời mà xuất hiện. Lấy Hà Lạc làm tông chỉ, dùng Huyền Không làm chỗ dựa.

Thái Ất du cung, nắm rõ nguyên vận. Thuận nghịch sắp xếp, biết rõ suy thịnh, sống chết.

Được lệnh thì dùng, mất lệnh thì bỏ. Xoay vần thế vận, có thể mong đợi thời thái bình.

Tấm lòng cứu thế, cả đời nguyện hướng đến. Bản thảo ngắt quãng, tiếc thay chỉ như giấy bỏ đi.

Học thuật gia đình thâm sâu, truyền thừa liên tục, thật đáng vui mừng. Tôi kính trọng Tiết Dân, xứng đáng là người kế thừa của tiên sinh.

Gần đây có người bạn của tôi, Thái sử Thân Nông, cùng nhau biên soạn thành sách, không làm mất đi ý chỉ của tiên sinh.

Cuối cùng truyền đến kẻ hậu học như tôi, chỉ hiểu được đôi phần. Như tham cứu Phật pháp, cúi lạy tôn kính năm vóc sát đất.

Tiếc thay tài trí nông cạn, chưa thể thấu triệt hoàn toàn. Tạm dùng lời lẽ đơn sơ, để thể hiện chút lòng ngưỡng mộ và mong muốn.

Tháng đông năm Nhâm Thân

Kẻ hậu học phụng viết: Giang Ngũ Dân, người Phụng Hóa


 Ý nghĩa của 12 cung trong tử vi đẩu số

-----------------
Trích: Tử vi đẩu số tinh thành - Sơn Nhân.
Tạm dịch: Minh Tuệ.



Tử vi đẩu số đem vận mệnh cát hung con người, nhân sự cùng mệnh chủ có mối quan hệ khăn khít, quy nạp thành 12 khía cạnh, còn được gọi là 12 cung. Danh xưng mười hai cung ứng với lục thân, sự tình. Ví dụ như cung mệnh đại biểu cho bản thân, cung huynh đệ đại biểu cho huynh đệ…
Ý nghĩa cơ bản của mười hai cung
1️⃣ Cung mệnh: Đây là cung quan trọng nhất trong mười hai cung, là hạt nhân của toàn bộ mệnh bàn cùng đấu số, được gọi là điểm Thái Cực, là đầu mối quan trọng trong vận mệnh của một đời người cùng với sự vật hoặc với những người xung quanh. Khi luận mười hai cung lúc nào cũng phải lấy cung Mệnh làm chuẫn để xem. Có thể nhìn thấy dung mạo, tính cách, tài năng, tư tưởng ý thức, trình độ phát triển, tiên thiên vận thế, sự may mắn, nó quyết định tiền đồ cả đời, là mấu chốt của sự cát hung thành bại.
Khi luận Mệnh, lấy cung mệnh làm chủ, tam phương tứ chính làm phụ, làm môi trường, nó có sự ảnh hưởng cao nhất quyết định cả đời quý khí thành tựu hay thất bại, cách cục vận mệnh cả đời cao hay thấp, tức là tiên thiên mệnh số, hoặc gọi là tiên thiên vận số. Tiên thiên vận thế tốt, hậu thiên vận thế ( tức tiểu đại hạn) không được tốt, gặp khó khăn có thể được sự trợ giúp mà vượt qua dễ dàng. Tiên thiên không tốt, hậu thiên tốt, tức đương số phải trãi qua nhiều chông gai binh biến nổ lực của bản thân mà thay đổi vận mệnh. Nhưng sẽ rất khó để lập công danh sự nghiệp của mức độ cao, bởi vì vận thế tiên thiên không được tốt. giống như cây mà không có gốc rễ vững chắc vậy, chỉ cần 1 con gió lớn liền gãy đỗ.
2️⃣ Cung huynh đệ: chủ yếu đại biểu cho anh chị em trong nhà, dung mạo tính tình tài năng của người mẹ, sự thành tựu và phát triển, anh chị em nhiều hay ít, mối quan hệ tốt xấu giữa mình cho anh chị em ấy, có được sự giúp đỡ hay không. Cũng có thể thấy được mối quan hệ giữa mình cùng với bằng hữu, hoặc đồng nghiệp trong công việc.
3️⃣ Cung phu thê: đại biểu cho một phần dung mạo, tính tình, tài năng, sự thành tựu của người phối ngẫu, sự yêu đương cùng mối quan hệ hôn nhân của bản thân, mối quan hệ, tình cảm, duyên phận với phu thê. Nó còn đại biểu cho thái độ của mình đối với người phối ngẫu, loại hình yêu thích của mình.
4️⃣ Cung tử tức: đại biểu con cái của đương số, dung mạo, tính tình, tốt xấu, tài năng cùng thành tựu của con cái, mối quan hệ tình cảm giữa mình với con cái và ngược lại. Nó còn đại biểu cho sinh hoạt phòng the.
5️⃣ Cung tài bạch: để xem hoạt động kinh tế cả đời cùng với năng lực quản lý tài sản, tiền tài như thế nào, cách kiếm tiền ra sao, sự phát triển của tài vận, thu nhập cao hay thấp, năng lực kiếm tiền, kiếm tiền bằng hình thức gì và phương thức kiếm tiền phù hợp, cách kiếm tiền có chính đạo hay không hay phải làm chuyện phi pháp để kiếm tiền. Tài phú có ổn định không…
6️⃣ Cung tật ách: đại biểu cho thân thể của bản thân, thể chất tiên thiên, tình trạng cơ thể, bệnh căn nặng nhẹ. Có thể thấy được cơ quan nào hoặc bộ vị nào có vấn đề, có phát sinh tật ách ngoài ý muốn hay không.
7️⃣ Cung thiên di: cung thiên di và cung mệnh có mối quan hệ mật thiệt như hình với bóng, tương hổ trong ngoài, mệnh chủ bên trong, di chủ bên ngoài. Đại biểu cho không gian hoạt động xã hội, năng lực, địa vị, trình độ đối ngoại, năng lực thích ứng với hoàn cảnh xã hội. Cát hung khi đi ra ngoài, xuất ngoại du lịch, đi xa…lên chức, điều động, di chuyển xa, li hương…đều có mối quan hệ. Sự tương trợ của xã hội hoặc quý nhân ở ngoài cũng có thể nhìn ở cung này.
8️⃣ Cung nô bộc: chủ yếu đại biểu cho gia đình, bằng hữu bên ngoài, những người ngang hàng với ta, đồng nghiệp, đồng sự, thuộc hạ, người hầu, nhiên viên, xem những đối tượng ấy có giúp được ta hay phá ta. Có thể biết được liệu có bị nhân viên phản hay không, mối quan hệ cùng nhân duyên sẽ như thế nào. Ví như cung nô bộc không tốt, khi hành hạn đến cung nô bộc, rất dễ bị tiểu nhân lừa gạt, thị phi, ám hại. Yêu đương hoặc tình ái bên ngoài cũng có thể nhìn vào cung này mà suy đoán.
9️⃣ Cung quan lộc (Hiện đại gọi cung sự nghiệp): đại biểu cho công danh lợi lộc, chức vị, thái độ làm việc, năng lực lập nghiệp, nghề nghiệp phù hợp, quá trình phát triển sự nghiệp, lương bổng nhiều ít, quan hệ với cấp trên.
Có thể xem xét về học lực khi đi học, như xem về học lực nếu cung quan lộc có xương khúc khôi việt hội chiếu không gặp hính sát phá, thì năng lục học tập tốt, thành tích tốt.
Người trưởng thành nếu cung quan lộc gặp hóa Kỵ, thì công việc rất dễ bị thay đổi, có thể vì bất mãn với công việc hoặc do điều kiện nội ngoại cảnh. Nếu gặp được hóa Lộc hóa Quyền, ắt là người có quyền có chức, có sự thành công trong sự nghiệp. Còn có thể nhìn thấy được thái độ của người phối ngẫu đối với mình như thế nào.
🔟 Cung điền trạch: đại biểu cho gia đình, gia trạch, tài khố, bất động sản, xem gia nhân, gia trạch có bình ổn hay không.
Có thể xem được hoàn cảnh của gia trạch, cách bố trí như thế nào, xem có thừa hưởng được tài sản của tổ tiên để lại hay không, năng lực tích trữ tiền của. Xem trong nhà có ảnh hưởng tốt xấu đến mình hay không, hàng xóm tốt xấu thế nào
1️⃣1️⃣ Cung phúc đức: là cung tư tưởng tinh thần, là kiếp trước tu hành, kiếp này được hưởng thụ, là nền móng tuổi thọ, tổ ấm cùng phúc phần tiên thiên (bao quát vật chất cùng tinh thần hưởng thụ). Để xem cuộc đời hạnh phúc hay vất vả, có an nhàn hay không, phương thức hưởng thụ.
Đại biểu cá nhân tu dưỡng tốt xấu, phương diện hưởng thụ tâm thái, nội tâm, tư tưởng phẩm đức tốt xấu.
Nhìn cá nhân tinh thần phải chăng là vui sướng, là lạc quan hay là bi quan, cần cù hay lười biếng. Đại biểu cho hứng thú, yêu thích, hệ tư tưởng.
Có được quý nhân phù trợ hay không, cuộc đời có được nhiều may mắn hay không…
1️⃣2️⃣ Cung phụ mẫu: Đại biểu cho phụ mẫu ( Chủ yếu là phụ thân ) Tính tình, tài năng, sự nghiệp, hoàn cảnh xã hội cùng cát hung. Duyên phận giữa mình và phụ mẫu, tình cảm, có được sự giúp đỡ của phụ mẫu hay không, hay tự mình gầy dựng sự nghiệp.
Nó còn đại biểu cho trưởng bối, cấp trên, người thầy…xem đi ra ngoài có được sự giúp đỡ hoặc ưu ái từ cấp trên hoặc trưởng bối hay không, mối quan hệ giữa mình và những đối tượng liên quan đến phụ mẫu ấy.
Cung phụ mẫu còn được gọi là cung tướng mạo, vì vậy khi xem về tướng mạo ngoài xem cung mệnh chúng ta cần phải xem thêm cung phụ mẫu.
Cung phụ mẫu đại biểu cho sự di truyền tốt xấu, còn được gọi là “đầu não tuyến”. Xem sự ảnh hưởng của phụ mẫu đối với mình, sự thông minh tài trí cùng tư tưởng ý thức, phương thức tư duy, học thức, trình độ văn hóa… cũng có sự ảnh hưởng rất lớn từ cung này.

Phụ mẫu là người nuôi dưỡng ta từ nhỏ, vì vậy trẻ nhỏ cần xem thêm cung phụ mẫu để biết thêm sự ảnh hưởng tốt xấu, có cấm đoán hay ép buộc, hay được nuông chiều quá mức hay không.
Cung phụ mẫu còn được gọi là cung văn thư; văn kiện, pháp quy, văn bảng, văn thư, khế ước, hợp đồng… những vấn đề liên quan đến giấy tờ đều phải nhìn cung phụ mẫu.

Cung phụ mẫu không tốt, tiền vận tương đối vất vã, thể xác và tinh thần đều khá mệt mỏi.